Giáo án môn Ngữ Văn 7 - Đề cương ôn tập - Bài 3: Cội nguồn yêu thương

doc 13 trang Tương Tư 12/03/2026 150
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án môn Ngữ Văn 7 - Đề cương ôn tập - Bài 3: Cội nguồn yêu thương", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_an_mon_ngu_van_7_de_cuong_on_tap_bai_3_coi_nguon_yeu_th.doc

Nội dung text: Giáo án môn Ngữ Văn 7 - Đề cương ôn tập - Bài 3: Cội nguồn yêu thương

  1. . BÀI 3: ÔN TẬP CỘI NGUỒN YÊU THƯƠNG I. TRI THỨC NGỮ VĂN - Trong một truyện kể, nhà văn có thể sử dụng nhiều ngôi kể khác nhau. + Có tác phẩm sử dụng hai, ba người kể chuyện ngôi thứ nhất + Có tác phẩm lại kết hợp người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện ngôi thứ ba. - Tác dụng: + Sự thay đổi kiểu người kể chuyện luôn thể hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả. + Mỗi ngôi kể thường mang đến một cách nhìn nhận, đánh giá riêng, khiến câu chuyện được soi chiếu từ nhiều chiều, trở nên phong phú, hấp dẫn, chứa đựng nhiều ý nghĩa. SỐ TỪ PHÓ TỪ 1. Số từ là những từ chỉ ý Phó từ là những từ chuyên đi Khái niệm nghĩa số lượng và thứ tự của sự kèm danh từ, động từ, tính từ để bổ vật. sung ý nghĩa cho danh từ, động từ, tính từ. 2. 2 tiểu loại cơ bản: 2 nhóm cơ bản: Phân loại * Số từ chỉ số lượng: gồm * Phó từ đi kèm danh từ: các từ chỉ số lượng xác đinh - Ý nghĩa: làm thành tố phụ (một, hai, ba,...) và số từ chỉ số trước cho danh từ và bổ sung ý nghĩa lượng ước chừng (vài, dăm, về số lượng của sự vật. mươi, dăm bảy, ba bốn,...). Khi biểu thị số lượng sự vật, số từ - Vị trí: đứng trước danh từ. thường đứng trước danh từ. - Ví dụ các phó từ đi kèm danh Ví dụ: từ: những, các, mọi, mỗi, từng,.. + Nó ăn được hai bát cơm. + Chúng tôi gặp nhau và nói dăm ba câu chuyện. *Phó từ đi kèm động từ, tính * Số từ chỉ thứ tự: đứng từ: sau danh từ, chỉ thứ tự của sự - Ý nghĩa: Làm thành tố phụ
  2. vật. Số từ chỉ thứ tự thường trước hoặc phụ sau cho động từ, tính đứng sau các danh từ thứ, hạng, từ, bổ sung ý nghĩa liên quan đến hoạt loại, số. động, trạng thái, đặc điểm nêu ở động Ví dụ: Tôi ngồi bàn thứ từ hoặc tính từ (quan hệ thời gian, sự nhất. số từ nhất kết hợp với tiếp diễn tương tự, sự phủ định, sự cầu từ thứ (thứ nhất) đứng sau danh khiên, mức độ,...). từ bàn chỉ số thứ tự của sự vật. - Vị trí: đứng trước hoặc đứng sau động từ, tính từ. - Ví dụ về các phó từ đi kèm động từ, tính từ: + Phó từ đứng trước động từ, tính từ: Phó từ quan hệ thời gian: đã, sắp, từng Phó từ chỉ mức độ: rất, khá Phó từ chỉ sự tiếp diễn: vẫn, cũng Phó từ chỉ sự phủ định: không, chẳng, chưa.. Phó từ cầu khiến: hãy, thôi, đừng, chớ + Phó từ đứng sau động từ, tính từ: Phó từ chỉ mức độ: lắm, quá, cực kì,.. Phó từ chỉ khả năng: được, Phó từ chỉ kết quả và hướng: mất, ra, đi II. THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT BÀI TẬP VỀ SỐ TỪ: Bài tập 1: Xác định và phân loại số từ trong các câu sau: Chúng bay chỉ một đường ra : Một là tử địa hai là tù binh [...] Nghe trưa nay, tháng năm mồng bảy Trên đầu bay, thác lửa hờn căm! Trông : bốn mặt, luỹ hầm sập đổ Tướng quân bay lố nhố cờ hàng...
  3. (Tố Hữu) Gợi ý trả lời Số từ chỉ số lượng Số từ chỉ thứ tự một (một đường ra), - Một , hai (Một là tử địa hai là tù bốn (bốn mặt) binh ). Chú ý: ở câu thơ thứ hai , từ “đường” bị lược bỏ so với câu thứ nhất. HS có thể thêm cụm từ “con đường thứ” vào câu mà không làm thay đổi ý nghĩa của câu thơ: Con đường thứ nhất (một) là tử địa, con đường thứ hai là tù binh. - năm, bảy (tháng năm mồng bảy ) Bài tập 2: Xác định số từ trong các câu sau và phân loại: a) Một canh... hai canh... lại ba canh, Trằn trọc băn khoăn, giấc chẳng thành; Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt, Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh. (Hồ Chí Minh) b) Tôi làm việc tám giờ một ngày. c) Bây giờ là tám giờ sáng. Gợi ý trả lời a) Một (một canh), hai (hai canh), ba (ba canh) là những số từ chỉ số lượng. Bốn (canh bốn), năm (canh năm) là những số từ chỉ thứ tự. b) tám (tám giờ) là số từ chỉ số lượng. c) tám (tám giờ sáng) là số từ chỉ thứ tự. GV giải thích rõ hơn cho HS: Ngày xưa người ta chia thời gian của một đêm làm năm canh. Cho nên canh bốn, canh năm là số thứ tự. Ngày nay người ta chia một ngày làm 24 giờ. Vậy đồng hồ chỉ 1 giờ hay 8 giờ thì 1 và 8 đều là số thứ tự. Đáng lẽ chúng ta phải nói là “giờ một” và “giờ tám” nhưng đây là cách nói theo thói quen đã được mọi người chấp nhận. Trong ngôn ngữ, cái sai lâu ngày khi được cộng đồng chấp nhận lại trở thành cái đúng. Bài tập 3: Trong câu sau đây : Nhất nước. nhì phân, tam cần, tứ giống (Tục ngữ) Các từ nhất, nhì, tam, tứ là số từ chỉ số lượng hay số từ chỉ thứ tự ? Vì sao ? Gợi ý trả lời
  4. Đây là tục ngữ, phải súc tích, cô đọng nên các từ ngữ đều bị rút gọn lại. Ta phải phục hồi lại để hiểu cho đúng. Câu trên có thể hiểu như sau : Thứ nhất là nước, thứ nhì là phân, thứ ba là chuyên cần, thứ tư là giống tốt. Do đó, các từ nhất, nhì, tam, tứ là các số từ chỉ thứ tự của sự vật. BÀI TẬP VỀ PHÓ TỪ: Bài tập 1: Xác định và nêu ý nghĩa bổ sung của các phó từ trong những câu sau đây : a) Đêm khuya, cháu vẫn cứ thổn thức không sao ngủ được. b) Em ăn ngay đi cho kịp giờ lên lớp. c) Bạn Lan đi ra cổng từ lúc nãy. d) Ô vẫn còn đây, của các em Chồng thư mới mở, Bác đang xem. (Tố Hữu) e) Em tôi cũng vừa mới đi học. f) Những ngày nghỉ, tôi thường ngồi nhà đọc sách và nghe nhạc. g) Nó chẳng bao giờ ăn cơm tối cùng mọi người. h) Câu chuyện tôi kể làm bà xúc động lắm. Gợi ý trả lời a) Phó từ “vẫn”, “cứ” chỉ sự tiếp diễn tương tự của hành động “thổn thức”. b) Phó từ “ngay” chỉ cách thức; phó từ “đi” chỉ sự cầu khiến của hành động “ăn”. c) Phó từ “ra” chỉ hướng của hành động “đi” d) Phó từ “vẫn” chỉ sự tiếp diễn tương tự của hành động “còn”; Phó từ “mới” chỉ thời gian của hành động “mở”; Phó từ “đang” chỉ thời gian của hành động “xem” e) Phó từ “vừa”, “mới” chỉ thời gian của hành động “đi học” f) Phó từ “những” bố sung ý nghĩa về số lượng cho danh từ “ngày nghỉ” g) Phó từ “chẳng” chỉ sự phủ định của hành động “ăn” h) Phó từ “lắm” chỉ mức độ của tính từ “xúc động” Bài tập 2: a) Đặt hai câu có phó từ đứng trước danh từ. b) Đặt hai câu có phó từ đứng trước và hai câu có phó từ đứng sau động từ hoặc tính từ. c) Đặt hai câu có hai phó từ đi liền nhau trước động từ. Gợi ý trả lời a) – Từng đàn chim rủ nhau bay về phương nam tránh rét. - Trên những cánh đồng, từng đàn cò trắng bay rập rờn.
  5. b) - Chúng ta hãy hành động vì Trái Đất xanh. - Cửa hàng sẽ khai trường vào thứ 2 tuần sau. - Trời hôm nay hơi nóng hơn mọi ngày. - Bạn ấy rất chăm học. - Bông hoa này thơm lắm. - Chiếc loa tôi mua cho bố không sử dụng được nữa. - Nó vừa đi ra ngoài. c) - Tôi vẫn cứ nhớ mãi tuổi thơ ấu. - Tôi cũng vừa mới tới trước bạn 5 phút. Bài tập 3: Viết đoạn văn ngắn (khoảng 10 câu) trình bày cảm nhận của em về một người thân trong gia đình, trong đó có sử dụng ít nhất 3 phó từ. Gạch chân dưới các phó từ đó. Gợi ý trả lời Bảng kiểm kĩ năng viết đoạn văn: STT Tiêu chí Đạt/ Chưa đạt 1 Đảm bảo hình thức đoạn văn với dung lượng khoảng 10 câu. 2 Đoạn văn đúng chủ đề: Cảm nhận cảu em về một người thân trong gia đình: - Người thân đó là ai? (ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, ) - Đặc điểm nổi bật của người thân. - Cảm nhận, suy nghĩ của em về người thân. 3 Đoạn văn sử dụng ít nhất 3 phó từ. 4 Đoạn văn đảm bảo tính liên kết giữa các câu. 5 Đoạn văn đảm bảo về yêu cầu về chính tả, cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp. Đoạn văn tham khảo: Mẹ là người quan tâm đến tôi nhất và cũng là người mà tôi yêu thương và mang ơn nhất trên đời này. Tôi vẫn thường nghĩ rằng mẹ tôi không đẹp. Không đẹp vì mẹ chẳng có cái nước da trắng, khuôn mặt tròn phúc hậu hay đôi mắt long lanh như mẹ người ta... mà mẹ
  6. chỉ có khuôn mặt gầy gò, rám nắng, vầng trán cao, những nếp nhăn của tuổi 40, của bao âu lo trong đời in hằn trên khóe mắt. Nhưng bố tôi bảo mẹ đẹp hơn những phụ nữ khác ở vẻ đẹp trí tuệ. Đúng vậy, mẹ tôi thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát lắm. Trên cương vị của một người lãnh đạo, ai cũng nghĩ mẹ là người lạnh lùng, nghiêm khắc. Có những lúc tôi cũng nghĩ vậy nhưng khi ngồi bên mẹ, bàn tay mẹ âu yếm vuốt tóc tôi, mọi ý nghĩ đó tan biến hết. Dường như một dòng yêu thương mãnh liệt qua bàn tay mẹ truyền vào sâu trái tim tôi, qua ánh mắt yêu thương, nụ cười trìu mến, qua tất cả những gì của mẹ. Tôi chỉ muốn nói với mẹ rằng: "Con yêu mẹ. Cảm ơn mẹ vì đã cho con được làm con của mẹ!'. Bài tập 4: Đọc lại các đoạn văn, các bài làm văn của anh (chị) đã viết trong các tiết ôn tập trước, hãy chỉ ra và xác định ý nghĩa của các số từ và phó từ có trong những đoạn văn/ bài văn đó. ÔN TẬP KĨ NĂNG VIẾT: VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC I. NHẮC LẠI LÍ THUYẾT 1. Yêu cầu đối với bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học - Giới thiệu được nhân vật trong tác phẩm văn học. - Chỉ ra được đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm. - Nhận xét được nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. - Nêu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật. 2. Dàn ý chung của một bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học * Mở bài: Giới thiệu tác phẩm văn học và nhân vật; nêu khái quát ấn tượng về nhân vật. * Thân bài: Phân tích đặc điểm của nhân vật: Lần lượt trình bày hệ thống luận điểm, luận cứ và dẫn chứng theo một trình tự nhất định để làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ở mở bài: - Chỉ ra các đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm. - Nhận xét, đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn - Nêu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật. * Kết bài: Nêu ấn tượng và đánh giá về nhân vật.. II. THỰC HÀNH VIẾT
  7. Lập dàn ý rồi viết thành bài văn hoàn chỉnh cho các đề sau: Đề 01: Hãy viết bài văn phân tích đặc điểm của nhân vật thầy Đuy-sen trong văn bản “Người thầy đầu tiên” (Ai-tơ-mai-tốp) Đề 02: Hãy viết bài văn phân tích đặc điểm của nhân vật người bố trong văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” (Nguyễn Ngọc Thuần) GV hướng dẫn HS lập dàn ý cho mỗi đề: (GV có thể giao lập dàn ý theo nhóm, mỗi nhóm làm 01 đề và cử đại diện trình bày) Đề 01: Hãy viết bài văn phân tích đặc điểm của nhân vật thầy Đuy-sen trong văn bản Người thầy đầu tiên (Ai-tơ-ma-tốp) Dàn ý 1. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm văn học và nhân vật; nêu khái quát ấn tượng về nhân vật. Tình cảm thầy trò luôn là một tình cảm cao đẹp, thiêng liêng, được bao áng thơ văn ngợi ca. Có những người thầy đã hết lòng vì học sinh thân yêu, đem lại ánh sáng, thay đổi cuộc đời cho bao học trò. Đến với những trang văn của nhà văn người Cư-rơ-gư-dơ- xtan, Ai-tơ-ma-tốp qua truyện vừa “Người thầy đầu tiên”, người đọc đặc biệt ấn tượng với hình tượng thầy Đuy-sen – một người thầy giáo đáng kính, hết lòng vì học sinh thân yêu. 2. Thân bài: Phân tích đặc điểm của nhân vật: Lần lượt trình bày hệ thống luận điểm, luận cứ và dẫn chứng theo một trình tự nhất định để làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ở mở bài: *Chỉ ra các đặc điểm của nhân vật thầy Đuy-sen dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm: Nhân vật thầy Đuy-sen hiện lên hiện lên qua lời kể, qua cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật An-tư-nai – nhân vật “tôi”, người kể chuyện. Ngôi kể thứ nhất giúp miêu tả tính cách của nhân vật thầy Đuy-sen qua cảm nhận của nhân vật khác, vừa thể hiện được tình cảm của nhân vật An-tư-nai với người thầy đầu tiên của mình. • Ngoại hình: Hình ảnh thầy Đuy-sen trong kí ức của An-tư-nai: đi chân không đứng giữa dòng suối đá, hai tay để sau gáy và đôi mắt sáng long lanh đăm đăm nhìn theo những đám mây trắng xa tít
  8. • Ngôn ngữ: - Thầy Đuy-sen trò chuyện, thuyết phục các em nhỏ đi học: + “Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Thế nào, các em thích học không, các em sẽ đi học chứ?” + “Các em cứ gọi thầy là thầy. Các em có muốn xem trường không? Vào đây, đừng ngại gì cả.” - Động viên, khích lệ An-tư-nai: “Dòng suối trong trẻo của thầy, em thông minh lắm Ôi, ước gì thầy được gửi em ra thành phố lớn. Em sẽ còn khá hơn biết chừng nào”. => Lời nói của thầy Đuy-sen gần gũi, ân cần, đầy yêu thương. • Hành động: - Một mình sửa sang nhà kho cũ thành lớp học, tự tay thầy đắp lò sưởi, dự trữ củi đốt, đi cắt rạ khô lót nền nhà,.. - Thầy bế các em nhỏ qua suối giữa mùa đông buốt giá; - Không để ý đến những lời lăng mạ, chế giễu của bọn nhà giàu; kể những câu chuyện vui để học trò quên đi mọi sự. - Cuối buổi học, thầy ở lại lấy đá và đất đắp những ụ nhỏ trên lòng suối để các em nhỏ bước qua không bị ướt chân. - Lo lắng, chăm sóc ân cần cho An-tư-nai khi cô bé bị chuột rút ở giữa suối. - Kiên trì day chữ cho các em bất chấp hoàn cảnh thiếu thốn, khắc nghiệt, sự đơn độc; - Thầy mơ ước về tương lai tươi sáng cho học trò. => Những hành động của thầy Đuy-sen vô cùng ấm áp; thầy lo lắng, quan tâm đến học trò như người thân trong gia đình. • Lời người kể chuyện nhận xét trực tiếp nhân vật: - Đám học trò đứa nào cũng yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, vì những ý nghĩa tốt lành, vì những ước mơ của thầy về tương lai học trò. - Học trò bất chấp khó khăn, khắc nghiệt (phải đi xa, leo đồi lội suối , bạt hơi vì gió rét, chân ngập trong những cồn tuyết) để tự nguyện đến lớp học nghe thầy giảng bài. - Nhân vật “tôi” mong ước: “Ước gì thầy là anh ruột của tôi.” • Mối quan hệ với các nhân vật khác: - Với bọn nhà giàu: thầy phớt lờ lời nói, hành động và thái độ coi thường, chế giễu của chúng. - Với học trò: Thầy coi học trò như người thân trong gia đình. - Với An-tư-nai: Thầy Đuy-sen hiểu và để tâm cả những hành động nhỏ bé của An-tư-nai (trút lại ki-giắc ở trường); An-tư-nai vô cùng yêu quý và kính trọng thầy Đuy-sen, mong muốn thầy là anh trai của mình. *Nhận xét, đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn:
  9. - Nhân vật thầy giáo Đuy-sen hiện lên qua hành động, cử chỉ, lời nói (đối thoại); được thể hiện qua cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật khác (An-tư-nai). - Kết cấu truyện truyện lồng truyện; ngôn ngữ truyện giàu hình ảnh, đậm chất thơ. *Nêu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật: - Thầy Đuy-sen là người có mục đích sống cao đẹp, cương nghị, kiên nhẫn, nhân hậu, vị tha,... trong đó, nổi bật nhất là tình cảm yêu thương, hết lòng vì học trò. - Hình tượng thầy Đuy-sen là hình mẫu về người thầy mẫu mực, hết lòng yêu thương học trò, lấy tình yêu thương để cảm hoá học trò. Ngợi ca vẻ đẹp của hình tượng thầy Đuy- sen cùng tình cảm thầy trò cao đẹp giữa thầy Đuy-sen và cô bé An-tư-nai, nhà văn đã làm nảy nở trong lòng người đọc niềm trân trọng những người thầy và bồi đắp trong mỗi chúng ta vươn tới lối sống nhân hậu, vị tha, yêu thương mọi người. 3. Kết bài: Nêu ấn tượng và đánh giá về nhân vật. Bài viết tham khảo: Tình cảm thầy trò luôn là một tình cảm cao đẹp, thiêng liêng, được bao áng thơ văn ngợi ca. Có những người thầy đã hết lòng vì học sinh thân yêu, đem lại ánh sáng, thay đổi cuộc đời cho bao học trò. Đến với những trang văn của nhà văn người Cư-rơ-gư-dơ- xtan, Ai-tơ-ma-tốp qua truyện vừa “Người thầy đầu tiên”, người đọc đặc biệt ấn tượng với hình ảnh thầy Đuy-sen – một người thầy giáo đáng kính, hết lòng vì học sinh thân yêu. Hình ảnh một người thầy tuyệt đẹp và đáng kính là cảm nhận sâu sắc nhất của mỗi chúng ta khi tìm hiểu về thầy Đuy-sen trong văn bản “Người thầy đầu tiên”. Thầy Đuy-sen hiện lên qua lời kể, qua cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật An-tư-nai – nhân vật “tôi”, người kể chuyện. Ngôi kể thứ nhất giúp miêu tả tính cách của nhân vật thầy Đuy-sen qua cảm nhận của nhân vật khác một cách chân thực, khách quan, vừa thể hiện được tình cảm của cô bé An-tư-nai với người thầy đầu tiên của mình. Nhà văn Ai-tơ-ma-tốp đã xây dựng nhân vật thầy Đuy-sen chủ yếu qua các chi tiết về ngoại hình, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và mối quan hệ với các nhân vật khác. Khi đến vùng núi quê hương của cô bé An-tư-nai, thầy Đuy-sen còn trẻ lắm. Học vấn của thầy lúc đó tuy không cao, nhưng trái tim thầy dạt dào tình nhân ái và sôi sục nhiệt tình cách mạng. Một mình thầy lao động hàng tháng trời, phạt cỏ, trát lại vách, sửa cánh cửa, quét dọn cái sân..., biến cái chuồng ngựa của phú nông hoang phế đã lâu ngày thành một cái trường khiêm tốn nằm bên hẻm núi, cạnh con đường vào cái làng nhỏ nghèo nàn lạc hậu. Thầy tự tay thầy đắp lò sưởi, dự trữ củi đốt, đi cắt rạ khô lót nền nhà,.. Tất cả những việc làm đó nhằm tạo điều kiện cơ sở vật chất cho lớp học của các em trong hoàn cảnh nghèo khó của địa phương. Khi An-tư-nai và các bạn nhỏ đến thăm trường với bao tò mò “xem thử thầy giáo đang làm gì, ở đấy cũng hay” thì thấy thầy “từ trong cửa bước ra, người bê bết đất”. Thầy Đuy- sen “mỉm cười, niềm nở” quệt mồ hôi trên mặt, rồi ôn tồn hỏi: “Đi đâu về thế, các em gái”. Trước các “vị khách” nhỏ tuổi, thầy hiền hậu nói: “Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Còn trường của các em thì có thể nói là đã xong đến nơi rồi...?”. Đuy-sen đúng là một người thầy vĩ đại, cử chỉ của thầy rất hồn nhiên. Thầy hiền hậu nói lên những lời ấm áp lay động tâm hồn tuổi thơ. Mới gặp các em nhỏ xa lạ lần đầu
  10. mà thầy đã nhìn thấy, đã thấu rõ cái khao khát muốn được học hành của các em: “Các em chả sẽ học tập ở đây là gì?” Thầy “khoe” với các em về chuyện đắp lò sưởi trong mùa đông..., thầy báo tin vui trường học đã làm xong “có thể bắt đầu học được rồi”. Thầy mời chào hay khích lệ? Thầy nói với các em nhỏ người dân tộc miền núi chưa từng biết mái trường là gì bằng tất cả tình thương mênh mông: “Thế nào, các em có thích học không? Các em sẽ đi học chứ?”. Thầy Đuy-sen quả là có tài, giàu kinh nghiệm sư phạm. Chỉ sau một vài phút gặp gỡ, vài câu nói nhẹ nhàng, thầy đã chiếm lĩnh tâm hồn tuổi thơ. Thầy đã khơi dậy trong lòng các em nhỏ người miền núi niềm khao khát được đi học. Với An-tư-nai, thầy nhìn thấu tâm can em, cảm thông cảnh ngộ mồ côi của em, thầy an ủi và khen em một cách chân tình: “An-tư-nai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không?”. Câu nói ấy cùng với nụ cười hiền hậu của Đuy-sen đã khiến cho cô gái dân tộc thiểu số bé nhỏ, bất hạnh “thấy lòng ấm hẳn lại”. Những buổi đến trường, thầy Đuy-sen gắn bó với những đám trẻ bằng thứ tình cảm nhân hậu, yêu thương. Thầy bế các em nhỏ qua suối giữa mùa đông buốt giá. Bị bọn nhà giàu chế giễu, coi thường, thầy không để ý, thầy còn kể những câu chuyện vui để học trò quên đi mọi sự. Cuối buổi học, thầy ở lại lấy đá và đất đắp những ụ nhỏ trên lòng suối để các em nhỏ bước qua không bị ướt chân. Thầy vô cùng lo lắng và chăm sóc ân cần cho An-tư-nai khi cô bé bị chuột rút ở giữa suối. Lũ trẻ hiểu hết những cử chỉ và hành động yêu thương của người thầy đáng kính nên vì yêu quý thầy, chúng đã tự nguyện đến trường mặc cho đường xa, phải leo đèo, lội suối, bạt hơi vì gió rét, chân ngập trong những cồn tuyết. Tấm lòng nhân hậu và những ý nghĩ tốt lành của thầy đã cảm hoá được lũ trẻ, thổi bùng lên khát khao học tập của chúng. Thật đẹp đẽ biết bao hình ảnh thầy trò cùng nhau chia sẻ chiếc lò sưởi giữa cảnh trời buốt giá. Những hành động của thầy Đuy- sen vô cùng ấm áp; thầy lo lắng, quan tâm đến học trò như người thân trong gia đình. Với riêng An-tư-nai, thầy động viên, khích lệ: “Dòng suối trong trẻo của thầy, em thông minh lắm Ôi, ước gì thầy được gửi em ra thành phố lớn. Em sẽ còn khá hơn biết chừng nào”. Thầy Đuy-sen luôn sống mãi trong kí ức của An-tư-nai với hình ảnh đi chân không đứng giữa dòng suối đá, hai tay để sau gáy và đôi mắt sáng long lanh đăm đăm nhìn theo những đám mây trắng xa tít Thầy Đuy-sen còn hiện lên qua lời người kể chuyện nhận xét trực tiếp nhân vật: “Chắc chắn tất cả đám học sinh chúng tôi đứa nào cũng yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, vì những ý nghĩa tốt lành, vì những ước mơ của thầy về tương lai chúng tôi. Cô bé An- tư-nai mong muốn thầy Đuy-sen là anh trai của mình: “Lúc bấy giờ cuộn tròn trong chiếc áo choàng của thầy Đuy-sen, tôi thầm nghĩ: “Ước gì thầy là anh ruột của tôi. Ước gì tôi được bá cổ thầy, nhắm nghiền mắt lại và thủ thỉ với thầy những lời đẹp đẽ nhất! Trời ơi, ước gì thầy Đuy-sen là anh ruột tôi!”. Như vậy, bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc qua qua hành động, cử chỉ, lời nói (đối thoại); được thể hiện qua cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật khác (An-tư-nai); kết cấu truyện truyện lồng truyện; ngôn ngữ truyện giàu hình ảnh, đậm chất thơ, văn bản truyện “Người thầy đầu tiên” đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật thầy Đuy-sen là người có mục đích sống cao đẹp, cương nghị, kiên nhẫn, nhân hậu, vị tha,... trong đó, nổi bật nhất là tình cảm yêu thương, hết lòng vì học trò. Thầy hiền hậu, thầy yêu thương tuổi thơ. Thầy đã đốt cháy lên trong lòng các em nhỏ vùng quê nghèo ngọn lửa của khát khao tri thức.
  11. Hình tượng thầy Đuy-sen là hình mẫu về người thầy mẫu mực, hết lòng yêu thương học trò, lấy tình yêu thương để cảm hoá học trò. Ngợi ca vẻ đẹp của hình tượng thầy Đuy-sen cùng tình cảm thầy trò cao đẹp giữa thầy Đuy-sen và cô bé An-tư-nai, nhà văn đã làm nảy nở trong lòng người đọc niềm trân trọng những người thầy và bồi đắp trong mỗi chúng ta vươn tới lối sống nhân hậu, vị tha, yêu thương mọi người. Ai-tơ-ma-tốp đã viết nên một truyện ngắn dưới dạng hồi ức chân thực, cảm động. Hình ảnh Đuy-sen – người thầy đầu tiên được tác giả nói đến với tất cả sự ca ngợi, với niềm thương mến bao la. Người thầy trong truyện ngắn là người thầy của tình thương đến với tuổi thơ, đem ánh sáng cách mạng làm thay đổi mọi cuộc đời. Ngọn lửa tình thương như toả sáng trang văn Ai-ma-tốp, mãi mãi làm ấm áp lòng người. Những trang viết của nhà văn Ai-tơ-ma-tốp cùng hình ảnh thầy Đuy-sen sẽ có sức sống lâu bền, neo đậu lâu dài trong lòng mỗi chúng ta. Đề 02: Hãy viết bài văn phân tích đặc điểm của nhân vật người bố trong văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” (Nguyễn Ngọc Thuần) Dàn ý 1. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm văn học và nhân vật; nêu khái quát ấn tượng về nhân vật. Văn học từ cổ chí kim luôn tồn tại một mạch nguồn xuyên suốt, đó là tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái. Đã có biết bao áng thơ văn ca ngợi tình cảm thiêng liêng đó. “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” của Nguyễn Ngọc Thuần cũng là một bài ca đẹp về tình phụ tử thiêng liêng, để lại bao niềm sâu lắng trong lòng bạn đọc. Đến với những trang văn của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Thuần, người đọc đặc biệt ấn tượng với hình tượng người bố - một người rất mực yêu thương con với tâm hồn phong phú và trái tim nhân hậu. 2. Thân bài: Phân tích đặc điểm của nhân vật: Lần lượt trình bày hệ thống luận điểm, luận cứ và dẫn chứng theo một trình tự nhất định để làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ở mở bài: (1) Chỉ ra các đặc điểm của nhân vật người bố dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm: - Nhân vật người bố hiện lên chủ yếu qua lời kể của người con – nhân vật “tôi”, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Tác dụng: + Miêu tả tính cách của nhân vật người bố qua cảm nhận của nhân vật khác (người con). + Vừa thể hiện được tình cảm của nhân vật “tôi” với bố. * Hành động, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ:
  12. - Hàng ngày người bố thường dẫn con ra vườn hoa, làm đồ dùng cho con tưới cây cùng. - Bố sáng ra các trò chơi thú vị để chơi cùng con: + Trò chơi nhắm mắt đoán tên các loài hoa trong vườn: Người bố hướng dẫn con nhắm mắt lại và chạm từng bông hoa Cảm nhận bằng xúc giác + Trò chơi nhắm mắt để tìm kiếm một vật giấu trong nhà; đố nhắm mắt đoán khoảng cách: ++ Người con nhắm mắt vẫn có thể đi mà không chạm vật gì, vẫn biết được bố đứng cách mình bao xa. ++ Nhờ trò chơi đoán khoảng cách mà người con có thể giúp bố cứu được bạn Tí suýt đuối nước. + Trải nghiệm đọc tên để nghe âm thanh tuyệt diệu tên gọi: Bố bảo con mỗi cái tên là một âm thanh tuyệt diệu; người càng thân với mình bao nhiêu thì âm thanh đó nghe càng tuyệt diệu bấy nhiêu. + Trò chơi ngửi rồi gọi tên các loài hoa: Hướng dẫn người con cảm nhận được mùi của các loài hoa cảm nhận bằng khứu giác. => Các trò chơi ngày càng khó hơn, tạo ra được sự hấp dẫn với đứa con. - Thái độ của người bố khi cùng con chơi trò chơi: Cùng con chơi một cách vui vẻ - Ngôn ngữ: Người bố luôn theo dõi, động viên, khích lệ để con tiến bộ hơn: “Bố cười khà khà khen tiến bộ lắm”; “Phen này con sẽ đoán được hết các loại hoa của bố mất thôi”; “bố nói tôi có cái mũi tuyệt nhất thế giới” => Lời nói âu yếm, trìu mến, đầy yêu thương. -Ý nghĩa những trò chơi của bố: + Hướng con đến những niềm vui, giá trị của cuộc sống. + Người bố muốn con được trải nghiệm từ thực tế cuộc sống để hình thành thói quen, sự gắn bó và biết trân trọng, nâng niu những giá trị của cuộc sống, cho dù là điều nhỏ nhất. Người bố đã thể hiện tình yêu thương lớn lao với người con thông qua việc dành thời gian cùng con làm những công việc, chơi những trò chơi lí thú để từ đó giúp con nhận ra những bài học sâu sắc từ cuộc sống, biết yêu thương, lắng nghe và thấu hiểu từ thiên nhiên, biết trân trọng mọi thứ xung quanh mình. *Lời người kể chuyện (người con) nhận xét trực tiếp nhân vật: + “Bố tôi bơi giỏi lắm” + “Bố nháy mắt và chúng tôi cười ồ Một bí mật giữa bố và tôi”. + Với “tôi”, bố là món quà “bự” nhất. => Người con rất tự hào về bố và thích thú với những bí mật của hai bố con.
  13. *Mối quan hệ với các nhân vật khác: Thái độ của người bố trước món quà của bạn Tí: - Người bố vốn không thích ăn ổi nhưng vẫn đón nhận những trái ổi mà Tí tặng một cách trân trọng. => Cho thấy thái độ trân trọng, nâng niu, biết ơn của người bố khi nhận món quà của Tí. - Ý nghĩa câu nói của người bố: “Một món quà bao giờ cũng đẹp. Khi ta nhận hay cho một món quà, ta cũng đẹp lây vì món quà đó” + Món quà thể hiện tình cảm, tấm lòng của người nên món quà dù lớn hay nhỏ đều đẹp và có ý nghĩa. Cách chúng ta nhận và trân trọng món quà của người tặng cũng thể hiện nét đẹp của chính mình. Dù thích hay không thích món quà, chúng ta cũng không nên từ chối hay khước từ người tặng bởi đó là tình cảm, tâm huyết mà họ đã dành cho chúng ta. + Từ đó, mỗi người đều rút ra được bài học cho mình trong cách ứng xử: cần trân trọng, biết ơn tình cảm, tấm lòng của người khác dành cho mình. *Nhận xét, đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn: - Nhân vật người bố hiện lên qua hành động, cử chỉ, lời nói (đối thoại); được thể hiện qua cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật khác (người con) - Ngôn ngữ truyện giàu hình ảnh, đậm chất thơ. *Nêu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật: - Tính cách của người bố qua văn bản: + Kiên nhẫn dạy con cách cảm nhận về vẻ đẹp và sự sống trong khu vườn; + Gần gũi, chia sẻ nhiều cảm xúc, suy nghĩ với con như một người bạn thân thiết; coi con là “món quà” quý giá nhất của cuộc đời;... + Yêu thương Tí, trân trọng đón nhận món quà đơn sơ của Tí,... + Thích trồng hoa, luôn chăm sóc và biết lắng nghe “tiếng nói” của khu vườn, nhịp sống thiên nhiên,... Có thể thấy, nhân vật người bố là một người rất yêu thương con, luôn quan tâm, gần gũi với con và có tâm hồn phong phú, sâu sắc; có trái tim nhân hậu. - Xây dựng hình ảnh người bố rất mực tâm lí, nhà văn gửi gắm đến người đọc thông điệp về tình cảm cha con thân thiết. Nhà văn cũng muốn nhắn nhủ tới những bậc làm cha làm mẹ: Hãy yêu quý trẻ em, hãy chia sẻ, gần gũi với con cái, hãy bước với thế giới của con bằng tình yêu thương và trái tim nhân hậu. 3. Kết bài: Nêu ấn tượng và đánh giá về nhân vật.