Bộ 25 Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 6 theo cấu trúc mới (Có đáp án)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bộ 25 Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 6 theo cấu trúc mới (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
bo_25_de_thi_hoc_sinh_gioi_ngu_van_6_theo_cau_truc_moi_co_da.pdf
Nội dung text: Bộ 25 Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 6 theo cấu trúc mới (Có đáp án)
- TỔNG HỢP ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI VĂN 6 THEO CẤU TRÚC MỚI ĐỀ SỐ 01 I. PHẦN ĐỌC- HIỂU ( 6,0 điểm) Đọc hai đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới Con bắt gặp mùa xuân Trong vòng tay của mẹ Ước chi vòng tay ấy Ôm hoài tuổi thơ con (Vòng tay mùa xuân, Hoàng Như Mai) Ánh mắt bố thân thương Rọi sáng tâm hồn bé Và trong bầu sữa mẹ Xuân ngọt ngào dòng hương (Mùa xuân của bé, Lâm Thị Quỳnh Anh) Câu 1. (1 điểm): Hai đoạn thơ được viết theo thể thơ nào? Nêu phương thức biểu đạt của hai đoạn thơ đó? Câu 2. (1 điểm): Hai đoạn thơ có điểm gì chung về nội dung. Câu 3. (2 điểm): Từ “xuân” trong hai đoạn thơ được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Nêu ý nghĩa của từ “xuân” trong hai đoạn thơ? Câu 4. (2 điểm): Theo em từ hai đoạn thơ, tác giả muốn gửi gắm đến người đọc điều gì? II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4 điểm) Em hãy viết đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày cảm nhận của em về hai câu thơ sau: Ước chi vòng tay ấy - 1 -
- Ôm hoài tuổi thơ con. (Vòng tay mùa xuân, Hoàng Như Mai) Câu 2. (10 điểm) Môt buổi sáng, em đi đến trường sớm để tưới nước cho bồn hoa trước lớp. Một cây hoa đang ủ rũ vì bị ai đó vặt lá, bẻ cành, làm rụng hết cánh hoa. Em nghe như nó thủ thỉ kể về chuyện đó. Hãy kể lại câu chuyện buồn của hoa. GỢI Ý LÀM BÀI I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Câu 1 Hai đoạn thơ được viết theo thể thơ năm chữ. Phương thức biểu đạt của hai đoạn thơ là biểu cảm. Câu 2 Điểm chung trong nội dung của hai đoạn thơ: bộc lộ được niềm hạnh phúc lớn lao của mỗi người con khi được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ. Câu 3 - Từ “xuân” trong hai đoạn thơ được dùng theo nghĩa chuyển. - Ý nghĩa của từ “xuân” trong hai đoạn thơ: +Xuân (đoạn 1): là tình yêu thương của mẹ đối với tuổi thơ của bé. Bé ước mãi được ở trong vòng tay yêu thương, ấm áp ấy. +Xuân (đoạn 2): dòng sữa mẹ ấm áp là mùa xuân nuôi bé lớn với nghĩa đầy đủ nhất cả về vật chất và tinh thần. Câu 4 HS có thể trả lời bằng nhiều cách khác nhau nhưng phải hướng tới giải quyết những điều gửi gắm của tác giả. Dưới đây là một số gợi ý - Tình cảm của cha mẹ dành cho con cái là thiêng liêng, cao đẹp. - 2 -
- - Mỗi người con cảm thấy hạnh phúc, sung sướng khi được sống trong vòng tay yêu thương, ấm áp nghĩa tình của cha mẹ. - Mỗi chúng ta cần có ý thức trân quý, xây dựng gia đình hạnh phúc.... II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ *Yêu cầu chung - Đảm bảo thể thức của một đoạn văn. - Xác định đúng nội dung: Mong ước được sống trong tình mẹ. * Yêu cầu cụ thể - Triển khai hợp lý nội dung đoạn văn: HS có nhiều cách cảm nhận khác nhau nhưng cần đảm bảo nội dung sau: + Hai câu thơ thể hiện mong muốn ngây thơ, hồn nhiên được sống trong vòng tay yêu thương của mẹ. Đó là mong ước giản dị được mẹ ôm, được mẹ vỗ về... + Đó là cách “làm nũng” đáng yêu vô cùng, thể hiện tình cảm trong sáng của trẻ thơ. Được sống trong tình mẹ là niềm hạnh phúc và mong ước của mỗi người. - Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận. - Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. Câu 2. (10 điểm) a. Đảm bảo cấu trúc bài văn tự sự (kể chuyện tưởng tượng: Bố cục ba phần, trình bày các sự việc rõ ràng, trình tự hợp lý; biết xây dựng nhân vật, cốt truyện; ngôi kể phù hợp(ngôi thứ nhất); lời kể tự nhiên, sinh động. b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Cây hoa kể lại chuyện buồn của mình cho em nghe khi nó bị ai đó bẻ cành, vặt lá, bị rụng hết cánh hoa. c. Triển khai hợp lý nội dung câu chuyện: Vận dụng tốt các yếu tố kể, tả, biểu cảm để có thể viết hoàn chỉnh bài văn theo yêu cầu sau - 3 -
- *Mở bài: Giới thiệu nhân vật, tình huống truyện *Thân bài: - Cây hoa tự giới thiệu về bản thân: đẹp, hoàn hảo, đang khoe sắc, tỏa hương làm đẹp cho ngôi trường, được nhiều bạn học sinh chú ý, khen ngợi. Nó cảm thấy hãnh diện, tự hào. - Cây hoa kể chuyện bị bẻ cành, vặt lá, bị rụng hết cánh hoa (kết hợp kể, tả biểu cảm) - Cây hoa đau đớn, xót xa khi mình bị tổn thương và cảm thấy rất buồn trước hành vi phá hoại môi trường, hủy hoại cây xanh (kết hợp kể, tả biểu cảm) - Lời nhắc nhở và mong muốn của cây với những học sinh (nói riêng) và con người (nói chung) *Kết bài: Suy nghĩ của người kể và lời nhắn gửi tới mọi người. d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, hấp dẫn, đan xen được lời kể của nhân vật và cảm xúc, suy nghĩ của người lắng nghe, có suy nghĩ riêng, cách truyền đạt riêng về thông điệp nhắn gửi. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng việt. ---------------------------------------------------------------------------------------------- ĐỀ SỐ 02 I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới Cha lại dắt con đi trên cát mịn. Ánh nắng chảy đầy vai, Cha trầm ngâm nhìn mãi cuối chân trời. Con lại trỏ cánh buồm nói khẽ: “ Cha mượn cho con cánh buồm trắng nhé, Để con đi...” (Hoàng Trung Thông- Những cánh buồm) - 4 -
- Câu 1. (1,0 điểm): Xác định thể thơ của đoạn văn trên. Câu 2. (1,0 điểm): Từ “ đi” trong câu “ Để con đi” là nghĩa gốc hay nghĩa chuyển. Câu 3. (2,0 điểm): Hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu thơ “Cha lại dắt con đi trên cát mịn. Ánh nắng chảy đầy vai,” Câu 4. (2,0 điểm): Em cảm nhận được điều gì trong lời nói ngây thơ của người con với cha trong đoạn văn trên? II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điêm) Từ việc hiểu nội dung đoạn thơ ở phần đọc hiểu trên, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) để trả lời cho câu hỏi: Theo em ước mơ có ý nghĩa gì đối với tuổi thơ. Câu 2. (10,0 điêm) Cho bài thơ sau Em có nghe tiếng xuân về gõ cửa Mang nồng nàn theo gió đón mùa sang Tiếng bầy chim đang ríu rít gọi đàn Từng nhành lá mướt non màu áo mới Em có nghe xuân về vui phơi phới Bao nụ cười tươi mới rạng trên môi Khắp không gian rộn rã như gọi mời Phố náo nức dòng người như trẩy hội (Nguyễn Hưng, Tiếng xuân về) Dựa vào ý bài thơ trên, kết hợp với trí tưởng tượng của mình, em hãy viết thành một bài văn miêu tả: Buổi sáng mùa xuân. - 5 -
- HƯỚNG DẪN LÀM BÀI I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Câu 1. (1,0 điểm): Thể thơ: tự do Câu 2. (1,0 điểm): Từ “ đi” trong câu “ Để con đi” được dùng theo nghĩa chuyển. Câu 3. (2,0 điểm): - Biện pháp tu từ trong câu thơ: Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Ánh nắng chảy đầy vai. - Tác dụng: + Gợi tả sinh động hình ảnh ánh nắng hiện hữu như một thứ chất lỏng thành dòng, thành giọt chảy tràn xuống cảnh vật, con người. Giúp người đọc hình dung cảnh hai cha con dắt nhau đi trên bãi biển vào một buổi sáng đẹp trời với ánh nắng mềm mại, dịu dàng và tràn ngập khắp nơi làm sáng đẹp lên hình ảnh của họ. +Cảm nhận tình cảm cha con ấm áp và niềm vui sướng của người con đi dạo bên cha. + Thấy được sự quan sát, cảm nhận tinh tế, trí tưởng tượng phong phú và tình yêu quê hương đất nước với những cánh buồm tuổi thơ của tác giả. Câu 4. (2,0 điểm) HS cảm nhận được: - Một ước mơ rất trong sáng, đẹp đẽ đáng trân trọng và ngợi ca. - Ước mơ đó gắn liền với cánh buồm trắng, với khát vọng đi xa đến những nơi chưa biết, đến những chân trời mới. - Đó là ước mơ của một tâm hồn trẻ thơ, ham hiểu biết muốn khám phá, chinh phục những bí ẩn của thế giới. II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điêm) a. Đảm bảo thể thức đoạn văn, số dòng quy định: 150 chữ b. Xác định đúng nội dung đoạn văn: Ý nghĩa của ước mơ đối với tuổi thơ. - 6 -
- c. Nội dung: Đây là câu hỏi mở tùy sự lựa chọn câu trả lời của HS miễn là hợp lý. Sau đây là định hướng: - Ước mơ là những điều tốt đẹp mà con người khao khát, hướng tới, mong muốn đạt được trong tương lai. Ước mơ tuổi thơ lúc nào cũng chất chứa đầy sự cao đẹp và trong sáng. Nó đơn thuần là xuất phát từ sở thích, niềm đam mê nhưng cho dù là kiểu ước mơ gì thì cũng thật đẹp đẽ và xứng đáng được trân trọng. - Với tuổi thơ, ước mơ có tác dụng làm phong phú đời sống tinh thần và nuôi dưỡng những ý nghĩ bay bổng cho các em, có ước mơ giúp các bạn học hành chăm chỉ, rèn luyện tu dưỡng đạo đức tích cực hơn, có kế hoạch, mục tiêu cần đạt được cho cuộc sống; là động lực, là nguồn sống, là điểm tựa để tuổi thơ vươn lên; là trạng thái của tâm hồn. - Cần phải có ước mơ ngay từ khi còn nhỏ và biết cách nuôi dưỡng ước mơ (học tập, rèn luyện,..).Cần trân trọng, nâng niu và chắp cánh cho những ước mơ đẹp ( như ước mơ của cậu bé trong đoạn văn trên) để biến ước mơ thành hiện thực. d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề của câu trả lời. e. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo các quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. Câu 2. (10,0 điêm) a. Đảm bảo cấu trúc bài văn, diễn đạt mạch lạc, văn phong trong sáng, từ ngữ được dùng gợi hình, gợi âm thanh và có sức biểu cảm. b. HS trình bày bằng nhiều cách khác nhau song phải biết dựa vào phần gợi dẫn của đề. Sau đây là định hướng: Mở bài: Giới thiệu chung về cảm nhận của bản thân về buổi sáng mùa xuân trên quê hương. Thân bài: ( Dựa vào ý bài thơ và tên bài thơ để tập trung miêu tả cảnh buổi sáng mùa xuân trên quê hương) - Cảnh vật mùa xuân + Bầu trời trong xanh: cao hơn, rộng hơn sau những ngày đông âm u, lạnh giá. + Những đám mây xanh vắt bay lượn trên bầu trời. + Không khí: ấm áp “Mang nồng nàn theo gió đón mùa sang” + Mưa xuân: lất phất, dịu dàng - 7 -
- + Gió xuân: nhẹ nhẹ, mơn man,.. - Tả bao quát mùa xuân + Nhìn đâu đâu cũng thấy phấn khởi và tươi vui. + Con đường trải dài sắc xuân + Không gian như chìm đắm trong hương xuân. - Tả chi tiết mùa xuân + Con người ai cũng vui vẻ, phấn khởi, tràn đầy ước mơ, hy vọng,... + Ai cũng ra đường với tâm trạng mừng vui. + Cây cối đua nhau nở rộ “Từng nhành lá mướt non màu áo mới” + Chim chóc ríu rít kêu “Tiếng bầy chim đang ríu rít gọi đàn” + Khắp nơi đều rộn ràng sắc xuân + Những cô cậu nhỏ háo hức được mặc quần áo mới “Khắp không gian rộn rã như gọi mời Phố náo nức dòng người như trẩy hội” + Những người lao động sẽ có một kỳ nghỉ dài. Kết bài: Nhận xét và cảm nghĩ về bức tranh buổi sáng mùa xuân trên quê hương. c. Sáng tạo: Có quan điểm riêng, suy nghĩ mới mẻ, phù hợp với yêu cầu của đề, với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật. d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo các quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. ------------------------------------------------------- ĐỀ SỐ 03 I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới “ Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi. Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kỳ hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy - 8 -
- đặn. Quả trứng hồng hào, thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng”. (Cô Tô, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 6, tập 2) Câu 1. (1,0 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn trên? Câu 2. (1,0 điểm): Nêu nội dung của đoạn trích. Câu 3. (1,5 điểm): Đoạn văn trên đã sử dụng mầy biện pháp tu từ? Câu 4. (2,5 điểm): Nêu tác dụng của các biện pháp tu từ tìm được trong đoạn trích trên. II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) Từ nội dung của đoạn trích ở phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn khoảng 10-15 dòng trình bày cảm nhận của em về biển đảo quê hương. Câu 2. (10,0 điểm) Tâm sự của bức tường mới xây trong trường bị các bạn học sinh vẽ bậy và phá hỏng. GỢI Ý LÀM BÀI I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Câu 1. (1,0 điểm): Phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn trên: Miêu tả Câu 2. (1,0 điểm): Nội dung của đoạn trích: Cảnh mặt trời mọc trên đảo Thanh Luân ( thuộc quần đảo Cô Tô) đẹp rực rỡ, tráng lệ và hùng vĩ. Câu 3. (1,5 điểm): Đoạn văn trên đã sử dụng 3 biện pháp tu từ: So sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Câu 4. (2,5 điểm):Tác dụng của các biện pháp tu từ tìm được trong đoạn trích trên: Tái hiện một cách sinh động, hấp dẫn, gợi cảm cảnh mặt trời mọc trên biển đảo Cô Tô. Cụ thể: + Gợi khung cảnh biển trời sau trận bão đẹp trong sáng, khoáng đãng (so sánh “ Chân trời sạch như tấm kính ”). + Vừa hình dung được hình dáng tròn trĩnh, phúc hậu, vừa hình dung được màu sắc đỏ tươi, rực rỡ, hồng hào cũng như kích thước kì vĩ của mặt trời (so sánh : như quả trứng -> đặc sắc, chân thực). - 9 -
- + Gợi được sự gần gũi mà uy nghi, sang trọng của thiên biển cả và mặt trời (hình ảnh ẩn dụ: chân trời, ngấn bể, mâm bạc) II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) Kỹ năng: Đảm bảo một đoạn văn(10-15 dòng), bố cục hợp lý, không lỗi chính tả, ngữ pháp, diễn đạt trôi chảy. Kiến thức: HS có thể trình bày cảm nhận về biển đảo quê hương (trên cơ sở đọc hiểu đoạn trích và văn bản Cô Tô) theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý sau: - Biển đảo nước ta rất đẹp, rộng lớn, hùng vĩ: Có nhiều bãi tắm, vũng, vịnh (vịnh Hạ Long, Sầm Sơn. Nha Trang,...) và hàng nghìn đảo, quần đảo lớn nhỏ ( Trường Sa, Cô Tô, Phú Quốc,..) trải rộng dài suốt từ bờ biển Móng Cái đến Hà Tiên. - Biển đảo nước ta phong phú và giàu có về tài nguyên khoáng sản, hải sản với nguồn dầu khí quan trọng, kho muối và hàng nghìn loài cá, ốc, tôm, cua, mực,.. - Biển là cái hồ điều hòa khổng lồ cung cấp hơi nước, mang dịu mát đến đất liền. - Tuy có nhiều bão tố ( thiên tai) nhưng biển hiền hòa, ân tình, bao dung....cho người dân quê hương bao điều tốt đẹp, như người mẹ hiền yêu thương chăm lo, hy sinh cho con cái của mình. Biển có giá trị to lớn về nhiều mặt và có ý nghĩa quan trọng với an ninh quốc phòng. Tình cảm yêu mến, tự hào, biết ơn. Khát khao tìm hiểu, khám phá về biển đảo-> Có ý thức trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ biển đảo. Câu 2. (10,0 điểm) Yêu cầu về hình thức: Bài viết sạch đẹp, bố cục rõ ràng, trình bày khoa học. Yêu cầu về nội dung Mở bài: Bức tường tư giới thiệu về mình Thân bài: - Bức tường kể về mình khi mới được xây: Đẹp, trắng tinh, mịn màng, luôn kiêu hãnh, thường phơi mình trong nắng sớm, tô đẹp cho ngôi trường,.. - Tâm sự của bức tường về cuộc sống mới ở trong trường - Tình cảm, sự gắn bó của bức tường với mọi người đặc biệt là học sinh. - Tâm sự đau buồn của bức tường khi bị một số bạn học sinh nghịch dại vẽ bậy khiến bức tường bẩn, khoác trên mình chiếc áo với những hình thù quái dị. Kết bài: - Ước mơ của bức tường. - Lời nhắc nhở các bạn học sinh. - 10 -
- - Liên hệ thực tế, rút ra bài học cho bản thân. ------------------------------------------------------------------------------------------ ĐỀ SỐ 04 I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới: (6,0 điểm) CON SẺ Tôi đi dọc lối vào vườn. Con chó chạy trước tôi. Chợt nó dừng chân và bắt đầu bò, tuồng như đánh hơi thấy vật gì. Tôi nhìn dọc lối đi và thấy một con sẻ non mép vàng óng, trên đầu có một nhúm lông tơ. Nó rơi từ trên tổ xuống. Con chó chậm rãi lại gần. Bỗng từ trên cây cao gần đó, một con sẻ già có bộ ức đen nhánh lao xuống như hòn đá rơi trước mõm con chó. Lông sẻ già dựng ngược, miệng rít lên tuyệt vọng và thảm thiết. Nó nhảy hai ba bước về phía cái mõm há rộng đầy răng của con chó. Sẻ già lao đến cứu con, lấy thân mình phủ kín sẻ con. Giọng nó yếu ớt nhưng hung dữ và khản đặc. Trước mắt nó, con chó như một con quỷ khổng lồ. Nó sẽ hi sinh. Nhưng một sức mạnh vô hình vẫn cuốn nó xuống đất. Con chó của tôi dừng lại và lùi Dường như nó hiểu rằng trước mặt nó có một sức mạnh. Tôi vội lên tiếng gọi con chó đang bối rối ấy tránh ra xa, lòng đầy thán phục. Vâng, lòng tôi đầy thán phục, xin bạn đừng cười. Tôi kính cẩn nghiêng mình trước con chim sẻ bé bỏng dũng cảm kia, trước tình yêu của nó. Theo I. Tuốc-ghê-nhép Câu 1. (1,0 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì? Câu 2. (1,0 điểm): Câu chuyện được kể theo ngôi thứ mấy? Câu 3. (2,0 điểm): Xác định cụm danh từ trong các câu văn sau và gạch chân dưới phần trung tâm của cụm danh từ đó “Con chó chậm rãi lại gần. Bỗng từ trên cây cao gần đó, một con sẻ già có bộ ức đen nhánh lao xuống như hòn đá rơi trước mõm con chó.” Câu 4. (1,0 điểm): Vì sao nhân vật tôi lại cảm thấy “lòng đầy thán phục”? Câu 5. (1,0 điểm): Hãy viết một câu ngắn gọn thể hiện ý nghĩa rút ra từ câu chuyện. II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) Từ nội dung của phần đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 10-15 dòng trình bày suy nghĩ về vấn đề: Làm thế nào để trở nên mạnh mẽ. - 11 -
- Câu 2. (10,0 điểm) Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu bên dưới “ Suốt đêm, mưa to, gió lớn. Sáng ra, ở tổ chim chót vót trên cây cao chim mẹ giũ lông cánh cho khô rồi khẽ nhích ra ngoài. Tia nắng ấm chiếu xuống đúng chỗ chú chim non đang ngái ngủ, lông cánh vẫn khô nguyên...” Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyên đã xảy ra với hai mẹ con chú chim trong một đêm mưa gió. GỢI Ý LÀM BÀI I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Câu 1. (1,0 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Tự sự Câu 2. (1,0 điểm): Câu chuyện được kể theo ngôi nhất Câu 3. (2,0 điểm) Học sinh xác định đúng cụm danh từ và gạch chân chính xác dưới phần trung tâm: +cây cao +một con sẻ già có bộ ức đen nhánh (Cụm danh từ thứ 2 có cấu tạo khá đặc biệt vì có cụm danh từ lồng trong cụm danh từ. Nếu học sinh chỉ xác định được “bộ ức đen nhánh” thì có thể cho 0,5 điểm.) Câu 4. (1,0 điểm): Nhân vật tôi cảm thấy “lòng đầy thán phục” vì: - Thấy được sự dũng cảm và sức mạnh của con sẻ nhỏ bé trước con chó lớn hơn nó nhiều lần. - Cảm phục trước tình mẫu tử thiêng liêng, sẵn sàng quên mình để cứu con của sẻ già. Câu 5. (1,0 điểm): Tình mẹ lớn lao và vĩ đại hơn bất cứ thứ gì trên đời. II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) - 12 -
- HS làm theo gợi ý sau: - Mạnh mẽ là gì? - Biểu hiện của mạnh mẽ. - Tác dụng của mạnh mẽ. Đoạn văn tham khảo Đã bao giờ bạn tự hỏi chính bản thân " Làm thế nào để trở nên mạnh mẽ?”. Trước khi trả lời câu hỏi đó, chúng ta cần hiểu mạnh mẽ là gì? Đó chính là sự dũng cảm, kiên cường, dám thử thách bản thân trước sóng gió của cuộc đời. Người có tinh thần mạnh mẽ là người biết cách vượt qua khó khăn, rào cản trong cuộc sống. Thực tế trong cuộc sống có rất nhiều người sở hữu khí chất này. Tiêu biểu như những vận đông viên khuyết tật. Mặc dù không được lành lặn như những người bình thường nhưng trong họ luôn sáng rực ngọn lửa của sự hi vọng, của niềm tin, của hoài bão và khát khao. Cũng nhờ có mạnh mẽ mà họ đã chinh phục được ước mơ của bản thân. Mãnh mẽ là một trong những yếu tố cần có trong mỗi người. Để có mạnh mẽ, bạn phải không ngừng rèn luyện, thử thách bản thân như ông cha ta đã từng căn dặn "Lửa thử vàng, gian nan thử sức". Bên cạnh đó, bạn còn phải học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để hiểu cặn kẽ về cách mà họ chiến thắng được sự tự ti, yếu đuối trong họ. Thật vậy, có mạnh mẽ, ta sẽ đập tan được những cám dỗ, dập tắt được ngọn lửa của sự nhút nhát, rụt rè đang cháy trong mình. Mỗi người hãy tự cho mình những khoảng thời gian để tôi luyện cho mình tinh thần mạnh mẽ. Câu 2. (10,0 điểm) HS làm theo gợi ý sau Mở bài: - Giới thiệu về tổ chim nhỏ chót vót trên cây cao và mẹ con chim - Sau một đêm mưa như trút nước, sáng ra thấy chim non lông cánh còn khô nguyên. Thân bài: - Cảnh trời mưa: Đám mây đen kịt, mưa nặng nề rơi, sấm sét ầm ầm, trời tối như mực. - Sự mong manh của tổ chim, nỗi lo của mẹ chim, sự sợ hãi của chim non. - Những nguy hiểm xảy ra trong đêm mưa gió, nguy hiểm quá đi, chim non vẫn ngủ ngon lành và không bị ướt, chim mẹ mệt mỏi nhưng tràn ngập hạnh phúc. - HS liên hệ thêm về tình mẫu tử khác ở ngoài cuộc sống. Kết bài: - Những suy nghĩ về sự can đảm vững vàng của chim mẹ. - Khẳng định tình mẫu tử qua câu chuyện. - 13 -
- ---------------------------------------------------------------------------------------------- ĐỀ SỐ 05 I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới: (6,0 điểm) CHIẾC BÌNH NỨT Hồi ấy, ở bên Tàu có một người gánh nước, mang hai chiếc bình ở hai đầu một cái đòn gánh trên vai. Một trong hai chiếc bình ấy bị nứt, còn bình kia thì tuyệt hảo,luôn mang về đầy một bình nước. Cuối đoạn đường dài từ con suối về nhà, chiếc bình nứt lúc nào cũng chỉ còn một nửa bình nước.Suốt hai năm tròn, ngày nào cũng vậy, người gánh nước chỉ mang về có một bình rưỡi nước. Dĩ nhiên cái bình nguyên vẹn rất tự hào về thành tích của nó. Nó luôn hòa thành tốt nhiệm vụ mà nó được tạo ra. Còn tội nghiệp chiếc bình nứt, nó xấu hổ về khuyết điểm của mình, nó khổ sở vì chỉ hoàn tất được một nửa công việc mà nó phải làm. Trong hai năm nó phải chịu đựng cái mà nó cho là thất bại chua cay. Một ngày nọ, chiếc bình nứt bèn lên tiếng với người gánh nước: “ Con thật là xấu hổ vì vết nứt bên hông làm rỉ mất nước suốt dọc đường đi về nhà bác”. Người gánh nước trả lời “ Con không để ý thấy chỉ có hoa mọc bên đường phía của con à? Đó là vì ta luôn biết khiếm khuyết của con nên đã gieo hạt hoa dọc đường bên phía con và mỗi ngày đi về con đã tưới nước cho chúng Hai năm nay, ta vẫn hái được nhiều hoa đẹp để trên bàn. Nếu mà con không phải là con như thế này thì trong nhà đâu thường xuyên có hoa đẹp để thưởng thức như vậy. Câu 1. (1,0 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản. Câu 2. (3,0 điểm): Xác định và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ nổi bật trong văn bản. Câu 3. (2,0 điểm)Nêu nội dung của văn bản. II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) - 14 -
- Từ nội dung phần đọc hiểu văn bản em hãy viết đoạn văn khoảng 7-10 dòng, trình bày suy nghĩ về vấn đề: “ Cuộc sống của chúng ta đều có thể như cái bình nứt”. Câu 2. (10,0 điểm) Cho hai nhân vật là một giọt nước mưa còn đọng trên lá non và một vũng nước đục ngầu trong vườn. Hãy hình dung cuộc trò chuyện lý thú giữa hai nhân vật và kể lại bằng một bài văn ngắn không quá môt trang giấy thi. GỢI Ý LÀM BÀI I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Câu 1. (1,0 điểm): Phương thức biểu đạt chính: Tự sự. Câu 2. (3,0 điểm): Bện pháp tu từ nổi bật trong văn bản: Ẩn dụ : Hình ảnh chiếc bình nứt. Tác dụng: Nhằm chỉ những hạn chế, khiếm khuyết trong mỗi con người nhưng vẫn mong muốn làm tốt công việc như một người thường. Câu 3. (2,0 điểm): Nêu nội dung của văn bản: Cách cư xử của con người trong cuộc sống. II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) HS làm theo gợi ý sau “ Cuộc sống của mỗi chúng ta đều có thể như cái bình nứt”.“Vết nứt’ ấy tượng trưng cho khiếm khuyết, cho những gì không trọn vẹn trong bản thân mỗi con người. Nhưng cũng như chiếc bình- dù nứt mà vẫn có ích cho đời- gieo nguồn nước cho những luống hoa mọc lên. Mỗi người chúng ta dù không hoàn hảo như chiếc bình lành nhưng ai cũng có những giá trị riêng, những đóng góp riêng cho xã hội. Hãy biết cách tận dụng và biến nó thành lợi thế của mình để thành công hơn trong cuộc sống. Câu 2. (10,0 điểm) Yêu cầu về hình thức: - Nên dùng ngôi kể thứ ba - Bố cục rõ ràng, mạch lạc ( Khuyến khích mở bài độc đáo) - Viết dưới dạng bài tự luận ngắn dài không quá một trang giấy thi. - 15 -
- Yêu cầu về nội dung: Bài văn phải ghi lại cuộc trò chuyện lý thú giữa hai nhân vật: Giọt nước đọng trên lá non: xinh đẹp, kiêu ngạo, không tự biết mình và vũng nước đục ngầu trong vườn: điềm đạm, hiểu rõ công việc mình làm, không quan tâm đến hình thức. Qua cuộc trò chuyện người kể phải gửi gắm trong đó một nội dung giáo dục cụ thể. Mở bài: Giới thiệu hoàn cảnh và nhân vật. Thân bài: - Diễn biến cuộc trò chuyện lý thú giữa hai nhân vật: Giọt Nước Mưa xinh đẹp nhưng kiêu ngạo, không tự biết mình. Vũng Nước điềm đạm, hiểu rõ công việc mình đang làm, không quan tâm hình thức. Kết bài: - Kết thúc câu chuyện - Ý nghĩa giáo dục trong thực tiễn cuộc sống. ---------------------------------------------------------------------------------------------- ĐỀ SỐ 06 I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi bên dưới: (6,0 điểm) THÁNG BA Sau làn mưa bụi tháng ba Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu Nền trời hừng hực sáng treo Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay. 1972 (Trần Đăng Khoa) Câu 1. (1,0 điểm): Xác định các phương thức biểu đạt trong bài thơ. Câu 2. (3,0 điểm): Tìm những biện pháp nghệ thuật và nêu tác dụng của những biện pháp nghệ thuật đó. Câu 3. (2,0 điểm)Nêu nội dung của bài thơ. - 16 -
- II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) Từ nội dung của phần đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn khoảng 10 dòng trình bày cảm nhận của em về cảnh một buổi chiều cuối xuân đầu hạ ở một làng quê Việt Nam. Câu 2. (10,0 điểm) Câu chuyện của mùa xuân quê hương; về thiên nhiên, về con người mỗi khi Tết đến, xuân về. GỢI Ý LÀM BÀI I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Câu 1. (1,0 điểm): Các phương thức biểu đạt trong bài thơ: Biểu cảm, miêu tả. Câu 2. (3,0 điểm) Biện pháp nghệ thuật: So sánh (lá tre đỏ- lửa thiêu) Tác dụng: Hình dung sau những làn mưa xuân cuối cùng, lá tre từ màu vàng đã chuyển sang màu đỏ ối, thắp lên những đốm lửa nhỏ báo hiệu hè về. Câu 3. (2,0 điểm)Nội dung của bài thơ: Bài thơ là sự cảm nhận tinh tế của Trần Đăng Khoa trước một buổi chiều cuối xuân đầu hạ ở một làng quê Việt Nam. II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm) Câu 2. (10,0 điểm) *Yêu cầu chung : Nhập vai "Mùa Xuân" để kể và tả về vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống đầm ấm hạnh phúc của con người mỗi khi Tết cổ truyền đến và mùa xuân tới. Lời văn trôi chảy tự nhiên biểu cảm nội dung cân đối. Mắc không quá 5 lỗi. *Yêu cầu cụ thể : Mở bài : .( 2 điểm) Giới thiệu nhân vật "tôi" - mùa xuân, kể sự việc đến khắp mọi nơi làm cho thiên nhiên và con người thêm tươi đẹp và hạnh phúc Thân bài :( 6 điểm) - 17 -
- 1) . Tả vẻ đẹp và kể tả việc mang lại vẻ đẹp, khơi dậy sức sống cho thiên nhiên đất trời. - Mỗi khi Mùa Xuân (tôi) đến đất trời bừng tỉnh chào đón tôi khơi dậy tô điểm cho thiên nhiên đất trời cỏ cây hoa lá ...( 2 điểm) 2) . Mùa xuân mang lại niềm vui hạnh phúc cho cuộc sống con người. - Không khí chuẩn bị đón tết và mùa xuân. Niềm vui hạnh phúc của con người, gia đình sum họp sau một năm lao động vất vả. Ông bà tổ tiên về ăn tết với con cháu, con cháu kính trọng thờ tổ tiên trang hoàng bàn thờ ngày tết. (1 điểm) - Mùa xuân khơi dậy sức sống tình yêu của con người đối với cảnh vật thiên nhiên làm tâm hồn tình cảm con người trong sáng ấm áp hơn. (1 điểm) - Mùa xuân đem đến cho con người ấm no hạnh phúc đầy đủ về cuộc sống tinh thần và vật chất rau hoa củ quả ... (1 điểm) - Mùa xuân khơi dậy ước mơ về tương lại tươi sáng, về ngày mai tốt đẹp. (1 điểm) Kết bài : (2 điểm) - Mùa xuân là quy luật vĩnh hằng tuần hoàn của trời đất. - Tình cảm của "tôi" (Mùa xuân) đối với thiên nhiên, con người. Mùa Xuân lưu truyến mỗi khi tạm biệt các bạn và sẽ trở lại với các bạn, ở mãi trong lòng các bạn. ---------------------------------------------------------------------------------------------- ĐỀ SỐ 07 I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi bên dưới CẢ NHÀ ĐI HỌC Đưa con đến lớp mỗi ngày Như con mẹ cũng "thưa thầy", "chào cô" Chiều qua bố đón tình cờ Con nghe bố cũng "chào cô", "thưa thầy"... - 18 -
- Cả nhà đi học, vui thay! Hèn chi điểm xấu, buồn lây cả nhà Hèn chi mười điểm hôm qua Nhà mình như thể được... ba điểm mười. (Cao Xuân Sơn) Câu 1. (1,0 điểm): Xác định thể thơ của bài thơ trên. Câu 2. (1,0 điểm): Em bé trong bài thơ reo lên: “Cả nhà đi học, vui thay!” vì phát hiện ra điều gì? Câu 3. (2,0 điểm): Hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ có trong hai câu thơ đầu bài thơ. Câu 4. (2,0 điểm):Qua khổ thơ thứ hai trong bài thơ trên, em cảm nhận được niềm vui đi học của cả nhà như thế nào? II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm): Từ việc hiểu nội dung bài thơ phần đọc hiểu ở trên, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) miêu tả hình ảnh mẹ hoặc bố khi em được điểm tốt. Câu 2. (10,0 điểm): Cho bài thơ sau: Đàn chim se sẻ Hót trên cánh đồng Bạn ơi biết không Hè về rồi đó Chiều nay bạn gió Mang nồm về đây Ôi mới đẹp thay! Phượng hồng mở mắt Dòng sông trong vắt Trườn lên bãi xa Một chuyến đò qua Mang theo lũ bướm Cánh diều bay lượn Thênh thang lúa đồng Bạn ơi thích không? Hè về rồi đó (Nguyễn Lãm Thắng, Hè về) Dựa vào ý bài thơ trên và tên của bài thơ, kết hợp với trí tưởng tượng của mình, em hãy viết thành một bài văn miêu tả. GỢI Ý LÀM BÀI - 19 -
- I. PHẦN ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm) Câu 1. (1,0 điểm): Thể thơ của bài thơ trên: Lục bát Câu 2. (1,0 điểm): Em bé trong bài thơ reo lên: “Cả nhà đi học, vui thay!” vì phát hiện ra: Cả nhà ai cũng đi học, ai cũng cắp sách đến trường. Câu 3. (2,0 điểm): Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc “hèn chi” Tác dụng: - Tạo nhịp điệu cho câu thơ - Nhấn mạnh nội dung tác giả cần diễn đạt: Niềm vui của nhân vật khi biết cả nhà đều đến trường. Câu 4. (2,0 điểm):Qua khổ thơ thứ hai trong bài thơ trên, em cảm nhận được niềm vui đi học của cả nhà: Em bé vui vì không chỉ có một mình lẻ loi đến lớp đi học mà mỗi bước chân tới trường của mình đều có sự đồng hành của bố mẹ. Bố mẹ cũng đi học, cũng chào cô, thưa thày, đến lớp rồi hết buổi học lại ra về như đứa trẻ. Còn gì tuyệt vời và hạnh phúc hơn khi cả gia đình cùng nhau đi học, cùng nhau vui khi được điểm cao và cảm thấy thất vọng, hụt hẫng khi bị điểm kém . Đó chính là niềm hạnh phúc lớn lao của cả gia đình khi cùng nhau đi học và cùng nhau tận hưởng niềm vui cuộc sống mỗi ngày. II. PHẦN LÀM VĂN ( 14,0 điểm) Câu 1. (4,0 điểm): Cho mãi đến tận bây giờ , tôi vẫn không thể quên được khoảng khắc ấy, cái khoảng khắc mà bố tôi nở nụ cười hạnh phúc đầy viên mãn khi thấy tôi đạt điểm tốt. Tôi vẫn còn nhớ như in, hồi ấy tôi học lớp 5, tôi học yếu nhất là môn toán. Chưa bao giờ đối với tôi, môn toán là dễ dàng cả. Gia đình tôi biết điều này, vì thế mà bố mẹ thường động viên tôi cố gắng học, giờ đã học đều các môn rồi thì cố mà học nôt môn Toán để cho phát triển trí não một cách cân bằng, toàn diện. Nhưng thực tình, với tôi, môn Toán thực sự rất khó. Tôi đã cố gắng rất nhiều mà cảm giác mình vẫn khoong thể khá hơn. Cho đến một hôm tôi thấy bố tôi dường như buồn rầu và chán ngán khi bác Ba đến nhà tôi chơi và khoe thành tích con bác vừa đạt giải Nhất trong kì thi OLympic Toán cấp huyện. Tôi nghe mà thấy thật hổ thẹn. Từ đấy, tôi học hỏi thêm trên mạng, cái gì không rõ thì hỏi lại bạn bè, thày cô. Với cách học hiệu quả tôi tiếp thu bài nhanh hơn và khả năng tính toán cũng cải thiện lên đáng kể. Một hôm, cô trả bài Kiểm tra, tôi vô cùng bất ngờ khi mình được 10 môn Toán. Chẳng chờ đợi lâu, vừa tan học là tôi chạy ngay về nhà khoe cho bố mẹ. Nghe tôi báo tin, bố tôi như không tin vào tai mình. Bố mừng rỡ nở một nụ cười cười, một nụ cười đầy tự hào và hạnh phúc. Nhanh như cắt, bố ôm chầm lấy tôi và nói : " Giỏi lắm , con gái à ! Bố biết là con sẽ làm được mà ." Câu nói của bố làm tôi cảm động vô cùng. Tôi chợt nhận ra rằng không có việc gì khó, chẳng qua là mình chưa thực sự cố gắng hết mình. Cũng từ đây, tôi càng cố gắng học tập nhiều hơn nữa, cố gắng để cho bố mẹ tự hào về tôi và cố gắng để cho nụ cười hạnh phúc ấy mãi luôn nở trên đôi môi của bố . " - 20 -



