Giáo án Ngữ văn Lớp 9 - Chủ đề: Đọc hiểu truyện hiện đại Việt Nam - Nguyễn Thị Mai Thu

doc 9 trang Tương Tư 11/03/2026 160
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Ngữ văn Lớp 9 - Chủ đề: Đọc hiểu truyện hiện đại Việt Nam - Nguyễn Thị Mai Thu", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_an_ngu_van_lop_9_chu_de_doc_hieu_truyen_hien_dai_viet_n.doc

Nội dung text: Giáo án Ngữ văn Lớp 9 - Chủ đề: Đọc hiểu truyện hiện đại Việt Nam - Nguyễn Thị Mai Thu

  1. Trường TH & ThCS Tân An Họ và tên: Nguyễn Thị Mai Thu Dạy khối 9 CHỦ ĐỀ: ĐỌC HIỂU TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LỚP 9 A. CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN - Giúp Hs nhận biết, hiểu và biết cảm nhận về các tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn lớp 9. - Rèn kĩ năng làm các dạng bài cho HS. B. CÁC DẠNG BÀI CƠ BẢN 1. Nhận biết - Hs nhận diện được tên tác giả, tác phẩm hoặc một số kiến thức về tiếng việt. 2. Thông hiểu - Hs hiểu được ý nghĩa nhan đề, tình huống, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong các tác phẩm đã học. 3. Vận dụng - Hs biết cảm nhận về cái hay cái đẹp của hình ảnh,chân dung, nhân vật qua các tác phẩm đã học. 4. Vận dụng cao - HS biết so sánh các hình ảnh của các tác phẩm. C. BÀI TẬP VẬN DỤNG Câu hỏi 1. Cho đoạn trích sau trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân và trả lời câu hỏi “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây ”, cái câu nói của người đàn bà tản cư hôm trước lại dội lên trong tâm trí ông. Hay là quay về làng? Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản đối ngay. Về làm gì ở cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ Nước mắt ông lão giàn ra. Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây( ) Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời đen tối, lầm than cũ nổi lên trong ý nghĩ ông. Ông không thể về cái làng ấy được nữa. Về bây giờ ra ông chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.” a) Đoạn trích trên thuộc tác phầm nào, của tác giả nào? Ghi rõ thời gian sáng tác tác phẩm. b) Nêu tinh huống truyện cơ bản của tác phẩm trên. c) Câu “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây..” là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp? d) Có bạn cho rằng đoạn trích trên đã sử dụng chủ yếu hình thức ngôn ngữ độc thoại, lại có bạn cho rằng đó là đọc thoại nội tâm. Ý kiến của em thế nao? Gợi ý a) Đoạn trích đó nằm trong truyện Làng của nhà văn Kim Lân, truyện được viết năm 1948, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. b) Truyện Làng đươc xây dựng dựa trên tình huống gay cấn để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước cảu nhân vật ông Hai. Tình huống ấy là cái tin làng ông theo giặc lập tể mà chính ông nghe được từ những người tản cư dưới xuôi lên.
  2. c) Câu nói đó là lời dẫn trực tiếp. d) Đoạn văn trích này chủ yếu dùng ngôn ngữ độc thoại nội tam, đó là những lời nói bên trong của nhân vật, không nói ra thành tiếng. Câu hỏi 2. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân kể từ khi nghe tin làng mình theo giặc. Gợi ý : Phân tích diễn biến tâm trạng của ông Hai, kể từ khi nghe được tin làng mình theo giặc. – Ông Hai yêu làng quê của mình bằng một tình yêu rất đặc biệt, ông thường hãnh diện khoe về làng. – Ông bất ngờ nghe tin làng Việt gian theo Tây khi ở nơi tản cư. Cái tin ấy khiến ông sững sờ đau đớn như chết đứng. Từ lúc ấy, trong ông Hai chỉ còn cái tin dữ kia xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt, nặng nề, thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông cùng với nỗi đau xót, tủi hổ. Suốt mấy ngày sau, ông Hai không dám đi đâu, chỉ quang quẩn ở nhà, nghe ngóng binh tình. – Trong ông Hai diễn ra một cuộc xung đột nội tâm và ông đã dứt khoát chọn theo cách của mình: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”, tình yêu nước đã lớn rộng hơn, bao trùm lên tình yêu làng. Nhưng ông Hai không dễ gạt bỏ tình cảm với làng, vì thế mà càng đau xót, tủi hổ. – Ông Hai còn bị dồn đến tình thế bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi. Mặc dù không biết đi đâu, ông Hai vẫn quyết không về làng. – Trong tâm trạng đó, ông Hai chỉ còn biết trút bầu tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ. Cuộc trò chuyện đó cho thấy tấm lòng gắn bó sâu xa, bền chặt của ông Hai với làng quê, với cách mạng, với kháng chiến. – Cái tin đồn thất thiệt ấy được cải chính, ông Hai như được sống lại. Ông lại sung sướng, hoan hỉ chạy đu khoe với hết mọi người tin vui đó. – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân sâu sắc, tinh tế. Câu hỏi 3: Nhan đề của truyện là "Làng" sao không phải là "Làng Chợ Dầu". Từ nhan đề của truyện, em hiểu gì về chủ đề của tác phẩm ?Gợi ý: Nhan đề của truyện là "Làng" không phải là “Làng Chợ Dầu” vì nếu là “Làng Chợ Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp, cụ thể ở một làng. Dụng ý của tác giả muốn nói tới một vấn đề mang tính phổ biến ở khắp các làng quê, có trong mọi người nông dân. Bởi thế "Làng" là nhan đề hợp với dụng ý của tác giả. Qua đó ta hiểu chủ đề của truyện: ca ngợi tình yêu làng quê tha thiết của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.Như vậy, nhan đề "Làng" vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của ông Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung: tấm lòng của những Câu hỏi 4. Phân tích đoạn trích sau để thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại đặc sắc của Kim Lân trong tác phẩm Làng, nghệ thuật đó giúp gì cho việc thể hiện nội tâm nhân vật? – Thế nhà con ở đâu? – Nhà ta ở làng chợ Dầu – Thế con có thích về làng chợ Dầu không? Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ. – Có
  3. – Ông lão ôm khít thằng bé vào long, một lúc lâu ông lại hỏi: – À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai? Thằng bé giơ tay lên, mạnh bào và rành rọt: – Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm! Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ: – Ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ? Gợi ý : Ngôn ngữ đối thoại ở đoạn này rất sinh động, góp phần bộc lộ tâm trạng và tính cách nhân vật. Ngôn ngữ đối thoại mà mang tính chất độc thoại, như lời tự giãi bày, tự minh oan. Ông Hai nói với con những câu mà đã biết chắc câu trả lời. Những câu hỏi ấy cũng mang bao nhiêu nỗi nhớ, bao bộn bề, giằng xé trong lòng ông. Rất yêu làng, nhớ làng, muốn về làng, nhưng tình cảm với kháng chiến còn cao hơn. Đau buồn tưởng làng theo giặc nhưng bố con ông Hai một lòng thành kính theo Cụ Hồ, theo kháng chiến. Cả hai tình cảm ấy đều mãnh liệt nhưng thống nhất trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Đó cũng là nét mới trong tư tưởng, tình cảm của ông Hai – người nông dân trong thời đại cách mạng và kháng chiến. Câu hỏi 5. Nêu những nét chính về tác giả Nguyễn Thành Long và tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa. – Nguyễn Thành Long (1925-1991) quê huyện Duy Xuyên, tình Quảng Nam. Ông viết văn từ thời kì kháng chiến chống Pháp, một cây bút chuyên viết truyện ngắn và kí. Nét đặc sắc trong truyện ngắn của ông là luôn tạo được hình tượng đẹp, ngôn ngữ giàu chất thơ, trong trẻo, nhẹ nhàng. – Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa viết vào năm 1970, sau chuyến đi thực tế Lào Cai của nhà văn, được in trong tập Giữa trong xanh (1972). Đây là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long. Câu chuyện về những nhân vật không tên, tác giả muốn giới thiệu với người đọc về một vùng đất lặng lẽ mà thơ mộng, ở đó có những con người đang lao động thầm lặng, sau mê hiến dân tuổi trẻ và tình yêu của mình cho quê hương, đất nước. Câu hỏi 6. Tóm tắt truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long được sáng tác năm 1970 trong một chuyến đi thực tế ở Lào Cai. Truyện kể về vùng đất Sa Pa và cuộc gặp gỡ tình cờ của bốn nhân vật: ông họa sĩ già, cô kĩ sư mới tốt nghiệp, bác lái xe và anh thanh niên cán bộ khí tượng trên đỉnh Yên Sơn, trong thời gian nửa tiếng dừng nghỉ. Ông họa sĩ, bác lái xe và cô gái lên thăm nơi ở và làm việc của anh thanh niên. Anh kể cho họ nghe về công việc và cuộc sống của mình – một công việc vô cùng quan trọng: đo gió, mưa, nắng dự vào việc báo thời tiết hàng ngày phục vụ sản xuất và chiến đấu. Điều kiện làm việc khắc nghiệt, gian khổ và cô độc, nhưng anh rất yêu nghề, làm việc chính xác, hết mình. Ông họa sĩ đã lại kí họa chân dung về anh. Anh khiên tốn giới thiệu cho ông những người khác ở Sa Pa xứng đáng để vẽ hơn. Họ chia tay nhau trong tình cảm quyến luyến khi nắng đã mạ bạc cả con đèo. Câu hỏi 7. Nêu cảm nhận của em về nhan đề Lặng Lẽ Sa Pa. Tác giả đặt tên cho truyên ngắn của mình là Lặng lẽ Sa Pa hẳn là có dụng ý sâu xa. Từ lặng lẽ vừa gợi hình vừa gợi cảm. Lặng lẽ cả bề ngoài cảnh vật và bên trong công việc của mỗi người ở đây. Lặng lẽ đi với địa danh Sa Pa, người đọc tưởng chừng như câu chuyện nói về một vùng đất yên tĩnh, thơ mộng chỉ hợp với việc đi du lịch, nghỉ ngơi. Nhưng không phải thế, nơi ấy có những con người đang ngày đêm miệt mài, âm thầm, lặng lẽ, say mê với công việc của mình, cống hiế tuổi trẻ cho quê hương, đất nước. Lặng lẽ mà không hề lặng lẽ bởi nhiệt
  4. huyết của tuổi trẻ luôn sôi động trong chính công việc của mỗi người. Nhan đề đã gợi ra ý nghĩa triết lí ấy. Ôn tập tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa Câu hỏi 8 “Lặng lẽ Sa Pa như một bức chân dung” (Nguyễn Thành Long), em hiểu thế nào về bức chân dung trong truyện ngắn này? Theo tác giả Nguyễn Thành Long, “nghĩ cho cùng, Lặng lẽ Sa Pa là một bức chân dung”. Đó là bức chân dung người thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, quanh năm mây phủ cây phong, một mình giữa cái lặng lẽ của Sa Pa. Tác giả gọi tác phẩm của mình là một bức chân dung bởi lẽ: ông chỉ để nhận vật chính (anh thanh niên) xuất hiện trong một cuộc gặp gỡ ngắn (nửa giờ đồng hồ) với ba nhân vật khác (ông họa sĩ, bác lái xe, cô kĩ sư trẻ). Cuộc sống, tình cảm, việc làm của anh hiện lên qua lời kể của bác lái xe, qua sự đơn giản, không xung đột, không thắt nút, kịch tinh, cao trao như nhiều truyện ngắn khác, nhẹ nhàng, bàng bạc một chất thơ mà thấm thía, sâu sắc. Qua những nét phác họa, chân dung nhân vật chính nổi bật lên nét đẹp tinh thần, tình cảm và lối sống tiêu biểu cho thanh niên thời đại Hồ Chí Minh . Câu hỏi 9. Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long a. Mở bài. Nêu cảm nhận chung về tác phẩm và nhân vật – Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn vô cùng nhẹ nhạng, trong trẻo, giàu chất thơ và tạo được hình tượng nhân vật đẹp. Truyện được viết vào năm 1970, sau chuyến đi thực tế ở Lào Cai của nhà văn Nguyễn Thành Long, có thể coi đây là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách của ông. – Truyện với những nhân vật không tên mà tiêu biểu là anh thanh niên trẻ cán bộ khí tượng trên đỉnh Yên Sơn, nhà văn muốn giới thiệu với bạn đọc về một vùng đất lặng lẽ và thơ mộng, đang có những con người lao động ngày đêm lặng lẽ cống hiến tuổi trẻ cho quê hương, đất nước. b. Thân bài. Cần đạt được các nội dung sau: * Nhân vật anh thanh niên Trước khi xuất hiện nhân vật chính, nhà văn đã giới thiệu cho người đọc một vùng đất đầy ấn tượng. Phong cảnh Sa Pa núi cao thác đổ trắng xóa, đường núi quanh co, cây cối chen nhâu hiện dần mỗi lúc một hấp dẫn. Nhân vật được khắc họa rõ nét dần dần. Cảnh thơ mộng, con người mộng mơ, tất cả từ bác lái xe đến ông họa sĩ, cô kĩ sư trẻ dường như trên chuyến xe ấy, mọi người đang đi tìm một điều giản dị nhưng quý giá, thiêng liêng. Vẻ đẹp của thiên nhiên Sa Pa đã làm nền cho vẻ đẹp con người Sa Pa – những con người làm công việc nghiên cứu khoa học trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước, vì cuộc sống của con người, trong đó có anh thanh niên cán bộ khí tượng kiêm vật lí địa cầu. * Vẻ mặt của anh được thể hiện tvieeg hoan cảnh sống và làm việc – Anh là “người cô độc nhất thế gian”, một mình làm việc trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt tháng bốn bề mây phủ cây phong, lạnh rét. Anh cô độc đến thèm người và luôn nhớ người, bởi anh sinh ra có gia đinh, cha mẹ, quên hương, làm sao không thèm, không nhớ. Nỗi nhớ khiến anh phải chặt cây chắn đường để được gặp người. Anh đã làm quen được với bác lái xe từ trước đó. Lần này qua bác lái xe, anh lại được làm quen với ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ, niềm vui ấy càng tiếp thêm cho anh tình yêu cuộc sống hơn bao giờ hết. – Công việc mỗi ngày của anh là: “Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất” nhằm dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày phục vụ sản xuất và chiến đấu. Công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao.
  5. + Hằng ngày, anh phải báo ốp về nhà vào các giờ 01 giờ sáng, 04 giờ, 11 giờ trưa, 19 giờ tối. Gian khổ nhất là vào lúc 01 giờ sáng rét, mưa, tuyết rơi, đang nằm trong chăn ấm phải chui ra khi nghe tiếng chuông đồng hồ báo ốp, chỉ muốn thò tay ra tắt ngay đi nhưng vì công việc chính xác đến không thế, đòihỏi ý chí, tinh thần cao. Anh vùng dậy, xách đèn đi, gió, bão tuyết ào ào xô tới tấn công như chặt từng khúc, như muồn quét đi, bứt phá lung tung tất cả xong việc, trờ về không làm sao ngủ lại được. + Công việc thật gian khổ, vất vả nhưng anh vẫn yêu nó, làm việc hết mình và chính xác. Có lần anh đã phát hiện ra một đám mây khô nên không quân ta đã tiêu diệt được nhiều phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng. Anh thấy mình thật hạnh phúc. Chính lòng say mê công việc mà anh đã vượt qua nỗi cô đơn, buồn chán của bản thân. Anh tâm sự với ông họa sĩ về công việc của mình, có lẽ đây là những suy nghĩ chân thành và sâu sắc nhất của anh: “Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, châu cũng nghi ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này, châu không nghi như vậy nữa. Và khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi, công việc của châu gắn liền với công việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất” Đọc những lời tâm sự này, ta càng thấy đó là suy nghĩ và lối sống biết làm chủ bản thân, ý thức sâu sắc được mục đích làm việc. Anh quả là con người mới, tiêu biểu cho lớp thanh niên: “Đâu cần thanh niên có – Đâu khó có thanh niên”, “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên” (Hồ Chí Minh). * Vẻ đẹp trong nếp sống, tính cách – Một mình trên núi cao, anh có thể sống tự do, thoải mái, lôi thôi, bừa bãi lắm chứ. Nhưng không, thật bất ngờ khi mọi người đến thăm lại thấy ngôi nhà của anh thật nagưn nắp, gọn gàng. Anh tự biết làm cho cuộc sống của mình vui vẻ, đầm ấm, thơ mộng, ý nghĩa và anh yêu sống nhường nào! + Anh trồng hoa: “Hoa dơn, hoa thược dược vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong, ”, vườn hoa khoe sắc rực rỡ hàng ngày như động viên, tiếp sức, làm cho tâm hồn anh tươi mát, mộng mơ, thêm yêu cuộc sống. + Anh đọc sách, trò chuyện, giao tiếp với sách, lấy sách làm bạn tri âm tri kỉ. + Anh nuôi gà vừa có thêm thựuc phẩm hàng ngày vừa tạo không khí gia đình vui tươi, đầm ấm. + Thế giới riêng của anh: “Một gian nhà sạch sẽ, với bàn ghế, sổ, sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm”, một cuộc đời riêng “thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách”, và ở ngoài sân: đàn gà, vườn hoa, đẹp, giản dị mà tao nhã biết bao! Có lẽ chính lối sống đẹp đẽ khiến anh quên đi hoàn cảnh cô độc, công việc nhàm chán, khắc nghiệt để thấy yêu nghề, yêu cuộc sống hơn. – Anh là người khiêm tốn, thành thực đáng quý. Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung của anh, anh từ chối bởi thấy công việc và những đóng góp của mình con nhỏ bé, chưa thấm vào đâu so với những người mà anh rất cảm phục như “ông kĩ sư ở vườn rai dưới Sa Pa”, “người đồng chí nghiên cứu khoa học” cùng cơ quan đang nghiên cứu lập bản đồ sét, với tất cả niềm say mê, hào hứng Anh nhiệt thành giới thiệu để ông họa sĩ vẽ chân dung của họ – những con người làm việc hết mình, thầm lặng, những cống hiến đáng trân trọng và khâm phục. – Một nét đẹp đáng quý mến nữa ở anh, đó là tấm lòng rộng mở, chân thành, gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người.
  6. + Với bác lái xedường như đã trở thành người bạn thân tình, anh chu đáo nhớ cả việc vợ bác mới ốm dậy để gửi củ tam thất về làm quà cho bác gái. + Với những người bạn mới như ông họa sĩ, cô gái trẻ, anh vui mừng đến luống cuống, hấp tấp khi biết họ sẽ lên thăm nơi ở và làm việc của mình. Anh bộc lộ tình cảm thật hồn nhiên, chân thành đến cảm động: anh tặng bó hoa tươi, đẹp rực rỡ cho cô gái trẻ, anh đếm từng phút vì thời gian gặp gỡ quý hiếm vô cùng, anh nói qua công việc của mình năm phút, còn hai mươi phút mời mọi người uống trà, trò chuyện. Anh thèm và khao khát được nghe chuyện dưới xuôi, anh tiếc: “chỉ còn năm phút nữa thôi”. Với anh không chỉ thèm người mà còn đói cả thông tin. Thời gian trôi đi thật nhanh, giờ phút chia tay đã đến, anh xúc động “quay mặt đi” và ấn vào tay ông họa sĩ làn trứng gà làm quà cho mọi người ăn trên đường. Anh không dám tiễn họ, sợ quyến luyến mà không cầm nổi lòng mình. => Chỉ bằng vài nét phác họa nhẹ nhàng, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh anh thanh niên – bức chân dung với những vẻ đẹp tinh thần, tình cảm, lối sống, những suy nghi về lí tưởng, công việc của anh. Thật đáng tiếc! Chính tác giả cũng đã nhận xét truyện ngắn này là một “một bức chân dung” – chân dung được hiện lên ở một số nét đẹp, nhưng chưa được xây dựng thanh một kinh tách hoan chỉnh và hầu như chưa có cá tính. c. Kết bài. Mở rộng vấn đề và liên hệ Quá khứ – chiến tranh và những đói nghèo của đất nước đã lùi xa. Chúng ta – thế hệ trẻ của thế kỉ XXI đang tiến công vào khoa học và hội nhập quốc tế, tiếp tục phải đối mặt với bao khó khăn mới. Chúng ta không có quyền lãng quên quá khứ của đất nước, của dân tộc nhất là những thế hệ cha anh đã cống hiến, hi sinh để có ngày nay. Những bài học về phẩm chất, về lí tưởng sống như anh thanh niên và những con người lao động vô danh trong Lặng lẽ Sa Pa vẫn mãi là tấm gương sáng cho thế hệ mai sau noi theo. Hãi cố gắng học tập rèn luyện để sống có ích cho bản thân và xã hội, được mọi người yêu mến, quý trọng. Câu 10:Nêu ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng Gợi ý: Là một nhan đề hay, thể hiện sâu sắc nội dung của tác phẩm.- Đó là hình tượng nghệ thuật chứa đựng tình cảm cha con sâu nặng, thiêng liêng.- Chọn hình ảnh “Chiếc lược ngà” làm nhan đề cho tác phẩm, nhà văn Nguyễn QuangSáng đ bộc lộ tài năng của mình trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm qua mộthình ảnh nghệ thuật c đ c, giàu ý nghĩa:+ Với bé Thu, chiếc lược ngà là kỷ vật , là tình cảm yêu mến nhớ thương của người chachiến sĩ.+ Với ng Sáu, chiếc lược ngà là một vật quý giá, thiêng liêng bởi nó chứa đựng tình yêu,nỗi nhớ thương của ng đối với đứa con gái và làm dịu đi nỗi day dứt, ân hận vì đ đánhcon khi nóng giân...=> Với nhan đề này, nhà văn kh ng chỉ nói tình cảm cha con thắm thiết, sâu nặng mà còngợi cho người đọc thấm thía những đau thương mất mát do chiến tranh gây ra cho baonhiêu con người, bao nhiêu gia đình. Câu 11:Trong truyện ngắn Chiếc Lược Ngà chi tiết vét sẹo có ý nghĩa gì? - Vết thẹo trên gương mặt ông Sáu là chi tiết nghệ thuật độc đáo, vừa thắt nút truyện, đẩy mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, lại vừa mở nút truyện.
  7. - Chi tiết nghệ thuật vết thẹo góp phần quan trọng thể hiện tính cách và tình cảm của nhận vật bé Thu – một em bé có bản lĩnh và có tình yêu ba sâu sắc. - Chi tiết nghệ thuật vết thẹo còn thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh và là lời tố cáo chiến tranh nhẹ nhàng mà thấm thía. Chiến tranh không chỉ khiến vợ phải xa chồng, con phải xa cha. Chiến tranh không chỉ tàn phá thể xác mà còn làm tổn thương tinh thần, khiến con không nhận ra cha. Chiến tranh khiến người ta phải xa cách và phải xa cách trong chính lúc gặp mặt. Câu 12: Nêu cảm nhận của em về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng DÀN Ý: I. Mở bài: giới thiệu về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà Ví dụ: Tình yêu trong văn học được biểu hiện rất sâu sắc và chân thành. Có những tình cảm rất thiêng liêng và sâu sắc như tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu năm nữ, tình bà cháu, tình mẹ con, và một thứ tình cảm rất thiêng liêng nữa ấy là tình cha con. Tình cảm cha con được biểu hiện rõ ràng nhất qua tác phẩm Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Qua tác phẩm hình ảnh bé Thu được thể hiện rất sâu sắc, chúng ta cùng đi tìm hiểu. II. Thân bài: Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà" 1. Hình ảnh bé Thu trong những ngày đầu gặp ba: - Khi ba về, người ba mà mình xem trong hình không giống như ở ngoài thực - Thu tròn mắt, ngạc nhiên và không chấp nhận sự thật - Khi thấy ba e chạy vụt vào trong nhà và gọi má - Sự hồn nhiên, ngây thơ hòa chút sợ hãi 2. Hình ảnh bé Thu trong khoảng thời gian ông Sáu ở nhà: - Khi ba muốn gần gũi và vỗ về thì bé Thu xô ra - Cứ xem ông Sáu như người lạ, không chấp nhận là ba của mình - Không chịu gọi một tiếng ba, nó nói trổng với má - Nó tỏ ra không thân thiện với ông Sáu - Ông Sáu gắp trứng cho Thu nhưng nó hất ra - Qua những hình ảnh ấy thể hiện thu là một cô gái bướng bỉnh, ngang ngạnh 3. Khi bé Thu nhận cha: - Nhận nhìn ra cha mình, cảm thấy có lỗi vô cùng và hối hận - Không còn bướng bĩnh và lanh lùng như trước - Hôn cha, ôm cha và không cho cha đi - Lòng yêu thương cha vô bờ bến
  8. - III. Kết bài : nêu cảm nhạn của em về nhân vật bé Thu Nhân vật bé Thu là biểu tượng cho tình yêu thương cha, thể hiện sự hồn nhiên, ngây thơ và ngang ngạnh của một đứa con nít. Câu 13: a. Người kể truyện trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê là ai?Cách chọn vai kể ấy có ý nghĩa nghệ thuật gì? b. Kể tên hai tác phẩm khác trong chương trình Ngữ Văn 9 có cùng đề tài với tác phẩm này? Gợi ý: - Người kể truyện là nhân vật Phương Định. - Tác dụng: + Tạo sự tin cậy, chân thực vì tác giả là người trong cuộc. + Miêu tả tâm lý thuận lợi vì nhân vật có thể dãi bày mọi trạng thái tình cảm của mình một cách tự nhiên. Câu 14:Ý nghĩa nhan đề bài Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê - Nhan đề "Những ngôi sao xa xôi" không chỉ là nói lên hình ảnh đẹp bắt đầu lung linh trên bầu trời đêm thành phố qua sự liên tưởng của Phương Định. Mà đây còn là nói đến đôi mắt của Phương Định có vẻ đẹp xa xăm như lời các anh chiến sĩ hay khen cô. Sử dụng hình ảnh này còn là một cách để tác giả ngợi ca về vẻ đẹp tâm hồn và tinh thần dũng cảm của tổ trinh sát mặt đường. - Đó là vẻ đẹp của những con người khao khát lập nên những sự tích anh hùng, họ chính là những ngôi sao đang tỏa sáng trên bầu trời đêm Trường Sơn. Vì vậy cách gọi ấy là ngợi ca vẻ đẹp lãng mạn của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn chống Mĩ ác liệt. Câu 15: Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩmNhững ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê I. Mở bài: giới thiệu về tác giả, tác phẩm và bước đầu khái quất nội dung chính. II. Thân bài: phân tích nhân vật Phương Định 1. Nhân vật Phương Định trước khi ra chiến trường - Phương Định là một người con gái thành phố - Cô yêu ca hát và nhay múa
  9. - Phương Định thích mặc quân phục và tham gia kháng chiến - Cô rất hay mộng mơ và nghĩ vẩn vơ 2. Phương Định khi vào quân ngũ: - Cô rất nhanh làm quen với mọi người, hòa nhập và ân cần - Cô học nhanh công việc và hoàn thành công việc một cách nhanh chóng - Cô thành thạo mọi việc chỉ sau một thời gian ngắn - Cô yêu công việc và không ngại hi sinh bản thân mình - Cô rất có tình đồng đội và yêu thương mọi người 3. Tình cảm và tình yêu của cô dành cho đồng đội: - Cô rất ân cần và chu đáo với đồng đội - Cô yêu tất cả đồng đội của mình - Cô yêu mưa và dưới mưa cô như trẻ con - Cô là một người rất tình cảm III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về nhân vật Phương Định Phương Định là một nhân vật rất cá tính, được tác giả thể hiện rất sâu sắc. qua các hình ảnh của Phương Định mà ta đã phần nào cảm nhận được sự khổ cực và hi sinh của các nữ chiến sĩ lúc chiến tranh để mang lại cuộc sống hòa bình cho chúng ta ngày nay.