Giáo án Ngữ văn 9 - Tiết 90: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ (Tiết 3)

docx 13 trang Tương Tư 17/03/2026 20
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Ngữ văn 9 - Tiết 90: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ (Tiết 3)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxgiao_an_ngu_van_9_tiet_90_nghi_luan_ve_mot_doan_tho_bai_tho.docx

Nội dung text: Giáo án Ngữ văn 9 - Tiết 90: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ (Tiết 3)

  1. Tiết 90 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ ( Tìm hiểu chung, cách làm bài) TIẾT 3 HOẠT ĐỘNG 1: MỞ ĐẦU a. Mục tiêu: Tạo tâm thế để vào bài mới. b. Nội dung: Những điểm lưu ý khi làm bài nghị luận về một đoạn thơ bài thơ. c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS. d. Tổ chức thực hiện: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ Qua nội dung tiết học trước, em hãy cho biết khi làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần lưu ý những gì ? Bước 2: Tổ chức thực hiện * Học sinh: - Hoạt động cá nhân: chuẩn bị ở nhà - HS trình bày - Dự kiến: * Bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần được bố cục mạch lạc theo các phần : - Mở bài : Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét, đánh giá của mình. (Nếu phân tích một đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tác phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó.) - Thân bài : Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ. - Kết bài : Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ. * Bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần nêu lên được các nhận xét, đánh giá và sự cảm thụ riêng của người viết. Những nhận xét đánh giá ấy phải gắn với sự phân tích, bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung cảm xúc,...của tác phẩm. * Giáo viên: Quan sát, nhận xét Bước 3: Trình bày sản phẩm: Trình bày miệng Bước 4: Đánh giá kết quả - HS: trình bày => nhận xét - GV chốt: Nhận xét phần chuẩn bị của HS => vào bài: Trong tiết học trước, các em đã được tìm hiểu về cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Trong giờ học này, cô sẽ hướng dẫn các em vận dụng kiến thức trong tiết học trước vào thực hành luyện tập. 2. HOẠT ĐỘNG : LUYỆN TẬP a. Mục tiêu: - Củng cố những kiến thức đã học để viết thành bài NL về một đoạn thơ , bài thơ. b. Nội dung: làm bài tập 1 SGK c. Sản phẩm: câu trả lời của HS d. Tổ chức thực hiện: Hoạt động của GV và HS Nội dung B1: Chuyển giao nhiệm vụ: III. Luyện tập: GV chiếu lên máy bài tập 1, cho cả lớp quan sát. Sau đó, gọi 1HS đọc bài tập. Bài 1: Bài 1:
  2. Một bạn học sinh khi lập dàn ý phân tích bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" đã triển khai các luận điểm phần thân bài như sau: A. Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân đất nước, dân tộc. B. Khát vọng hoà nhập, dâng hiến “mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ. C. Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên, đất trời. 1. Hãy sắp xếp lại các luận điểm trên theo trật tự hợp lí của bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ". 2.Tại sao, em lại sắp xếp trình tự luận điểm như trên? B2: Thực hiện nhiệm vụ: Hđ cá nhân B3: Báo cáo kết quả: HS trình bày Dự kiến sp: - Các luận điểm trên theo trật tự hợp lí của bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ":C-A-B - Sắp xếp trình tự luận điểm như trên vì: căn cứ vào nội dung cảm xúc của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ". - GV chốt đáp án đúng trên máy chiếu, và yêu cầu HS đọc lại trình tự các luận điểm. B4: Đánh giá kết quả: - HS: Đọc trả lời => HS khác nhận xét - GV: Lắng nghe HS trả lời và phần nhận xét => GV nhận xét, đánh giá. Qua bài tập trên, ta thấy việc triển khai các luận điểm trong bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ phải gắn cảm xúc, suy nghĩ của bản thân với nội dung cảm xúc của tác phẩm. Có như vậy, lập luận trong bài văn mới chặt chẽ. a. Mục tiêu: - Củng cố những kiến thức đã học để viết thành bài NL về một đoạn thơ, bài thơ. b. Nội dung: Phân tích khổ thơ đầu bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh. c. Sản phẩm: Bài viết của HS d. Tổ chức thực hiện: B1: Chuyển giao nhiệm vụ: Bài 2: Phân tích khổ 1.Em hãy cho biết yêu cầu của bài tập? thơ đầu của bài thơ 2.Trong khi tìm hiểu đề bài trên, em cần thực hiện “Sang thu” những thao tác nào? Dàn ý: 3.Em hiểu thế nào về lệnh đề “ phân tích ”? a- Mở bài: 4. Em làm gì để tìm ý cho bài văn? - Giới thiệu TG –TP; 5.Em hãy trả lời ngắn gọn những câu hỏi đó? vị trí đoạn thơ trong 6.Dựa vào dàn ý chung của bài văn nghị luận về một TP. đoạn thơ, bài thơ (đã học) và các ý vừa tìm, em hãy lập - Đánh giá khái quát dàn ý chi tiết theo các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài đoạn thơ: Cảm nhận cho đề văn trên? tinh tế của bài thơ...
  3. B2: Thực hiện nhiệm vụ: Hđ cá nhân + nhóm (Câu 6) b- Thân bài: B3: Báo cáo kết quả: HS trình bày * Cảnh đất trời sang + đại diện nhóm trình bày thu: Dự kiến sp: - Tín hiệu chuyển mùa - Y/C của BT2 : Phân tích khổ thơ... ( P.tích hình ảnh: - Cần thực hiện các thao tác để làm BT2: hương ổi, gió se, - Đọc kĩ đề bài để xác định: sương chùng chình) + Vấn đề nghị luận: Khổ 1 bài thơ "Sang thu" của Hữu * Cảm xúc của tác giả: Thỉnh. - P.tích: bỗng, hình + Yêu cầu nghị luận: Phân tích như--> mơ hồ, bất - Lệnh đề “ phân tích ”: là chỉ định về phương pháp tiếp ngờ...=> tâm hồn biến cận bài thơ: chia tách bài thơ thành những khía cạnh, chuyển nhịp nhàng với những phương diện riêng (phân), tìm ra mối quan hệ giữa phút giao mùa của các khía cạnh, phương diện ấy (tích) để nhận xét, đánh giá cảnh vật-->cảnh sang toàn diện chính xác. thu của cảnh vật, thấp - Các thao tác để tìm ý cho đề văn trên: Đặt câu hỏi để tìm thoáng hồn người sang những giá trị nội dung, nghệ thuật tiêu biểu của đoạn thơ. thu. ( theo những câu hỏi gợi ý trong SGK trang 84) c- Kết bài: - HS trả lời ngắn gọn các câu hỏi gợi ý trong SGK: - Khái quát giá trị ý + Cảm nhận tinh tế khi chợt nhận ra những tín hiệu chuyển nghĩa của đoạn thơ. mùa từ Hạ sang Thu. + Cảm xúc ngỡ ngàng của tác giả trước sự thay đổi bất ngờ của thiên nhiên. +Hình ảnh thơ ấn tượng, ngôn từ trong sáng, gợi cảm ? Lập dàn ý chi tiết theo các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài cho đề văn trên? - HS làm việc theo nhóm nhỏ (1bàn/nhóm)- Thời gian 5 phút - Đại diện một số nhóm trình bày và nhận xét chéo lẫn nhau. GV nhận xét, bổ sung, sửa chữa. B4: Đánh giá kết quả: - HS: nhận xét, bổ sung, sửa chữa. - GV: Lắng nghe HS trả lời và phần nhận xét => GV nhận xét, đánhgiá. a. Mục tiêu: - Củng cố những kiến thức đã học để nhận biết được cách sắp xếp các ý trong một bài dàn bài cụ thể. b. Nội dung: dàn ý khổ thơ đầu bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh. c. Sản phẩm: Bài viết của HS d. Tổ chức thực hiện: B1: Chuyển giao nhiệm vụ: HS quan sát dàn bài của một bạn HS đã làm như sau (chiếu): 1. Mở bài: tổng hợp lại giá trị, ý nghĩa của khổ 1. 1.1. Nội dung: Đất trời chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt.
  4. 1.2. Nghệ thuật: Cảm nhận tinh tế, hình ảnh giàu sức biểu cảm. 2. Thân bài: suy nghĩ, đánh giá về nội dung, nghệ thuật của khổ 1. 2.1. Cảm xúc của nhà thơ: 2.1a. Nội dung: Tín hiệu thu sang nhẹ nhàng, mơ hồ. 2.1b. Nghệ thuật: - Hình ảnh: "hương ổi", gió, sương". - Từ ngữ gợi tả, biểu cảm: "phả, se, chùng chình"; nhân hóa “Sương chùng chình". 2.2. Cảnh sang thu của đất trời: 2.2a. Nghệ thuật: từ ngữ gợi tả, biểu cảm "bỗng, hình như". 2.2b. Nội dung: Tâm trạng ngỡ ngàng, bâng khuâng. 3. Kết bài: 3.1. Giới thiệu: Đề tài mùa thu trong thi ca và "Sang thu" của Hữu Thỉnh, vị trí đoạn thơ. 3.2. Nêu vấn đề: - Khổ 1: Đất trời chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt qua sự cảm nhận tinh tế, hình ảnh giàu sức biểu cảm. - Chép khổ thơ. 1.Em có nhận xét gì về dàn bài trên? 2. Em hãy sắp xếp lại trình tự các luận điểm, luận cứ trên theo một trình tự hợp lí? B2: Thực hiện nhiệm vụ: Hđ cá nhân B3: Báo cáo kết quả: HS trình bày *Dự kiến sp: 1.Nhận xét :Sự sắp xếp các luận điểm, luận cứ trong dàn bài trên còn lộn xộn, không khoa học. 2. Sắp xếp lại trình tự các luận điểm, luận cứ :HS trình bày cách sắp xếp của bản thân. B4: Đánh giá kết quả: - HS: trả lời => Các HS khác nhận xét - GV: Lắng nghe HS trả lời và phần nhận xét => chốt kiến thức đúng trên máy chiếu: 1. Mở bài: 1.1. Giới thiệu: Đề tài mùa thu trong thi ca và "Sang thu" của Hữu Thỉnh, vị trí đoạn thơ. 1.2. Nêu vấn đề: - Khổ 1: Đất trời chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt qua sự cảm nhận tinh tế, hình ảnh giàu sức biểu cảm. - Chép khổ thơ. 2. Thân bài: Suy nghĩ, đánh giá về nội dung, nghệ thuật của khổ 1. 2.1. Cảnh sang thu của đất trời: 2.1a. Nội dung: Tín hiệu thu sang nhẹ nhàng, mơ hồ. 2.1.b. Nghệ thuật: - Hình ảnh: "hương ổi", gió, sương".
  5. - Từ ngữ gợi tả, biểu cảm: "phả, se, chùng chình"; nhân hóa “Sương chùng chình". 2.2. Cảm xúc của nhà thơ: 2.2a. Nghệ thuật: từ ngữ gợi tả, biểu cảm "bỗng, hình như“. 2.2b. Nội dung: Tâm trạng ngỡ ngàng, bâng khuâng. 3. Kết bài: tổng hợp lại giá trị, ý nghĩa của khổ 1. 3.1- Nội dung: Đất trời chuyển sang thu nhẹ nhàng mà rõ rệt. 3.2. Nghệ thuật: Cảm nhận tinh tế, hình ảnh giàu sức biểu cảm. a. Mục tiêu: - Củng cố những kiến thức đã học để biết cách làm bài NL về một đoạn thơ, bài thơ. b. Nội dung: Lập dàn ý chi tiết từ đề bài đã cho. c. Sản phẩm: Bài viết trên bảng. d. Tổ chức thực hiện: B1: Chuyển giao nhiệm vụ: *Hoạt động nhóm * GV hướng dẫn HS thực hành luyện viết dựa vào dàn ý trên. GV chia lớp thành 3 nhóm (3 tổ) và yêu cầu: - Nhóm 1 (tổ 1): Viết mở bài, kết bài - Nhóm 2 (tổ 2): Viết thân bài (Luận điểm 1) - Nhóm 3 (tổ 3): Viết thân bài (Luận điểm 2) ? Em hãy nêu một số cách trình bày đoạn văn thường gặp? HS: Một số cách trình bày đoạn văn thường gặp: - Diễn dịch - Quy nạp - Tổng- phân- hợp - Song hành - Mắt xích B2: Thực hiện nhiệm vụ: Hđ nhóm B3: Báo cáo kết quả: đại diện nhóm trình bày + HS dưới lớp làm vào phiếu học tập. * Dự kiến sp: Mở bài: Xuân, hạ, thu, đông- bốn mùa trôi qua đã trở thành đề tài quen thuộc cho biết bao tác phẩm văn thơ và cũng là nguồn thi cảm vô tận của nhiều thi nhân. Đặc biệt là mùa thu với những nét buồn man mác, với nắng vàng và hương thơm dịu dàng cùng gió, cùng hoa...Chúng ta đã gặp thu trong "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu, trong "Thu" của Chế Lan Viên hay "Chiều thu" của Thái Can... Nhưng Hữu Thỉnh lại đem đến cho bạn đọc một nét riêng biệt của mùa thu, đó là thời khắc giao hòa của cuối hạ với đầu thu. Mà khổ thơ thứ nhất chính là khúc dạo đầu cho bản hòa ca tràn
  6. đầy cảm xúc bồi hồi, bâng khuâng của những rung động ngọt ngào, tinh tế ấy: “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về” Thân bài (luận điểm 1) "Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào trong gió se". Câu thơ chứa tín hiệu đầu tiên báo mùa thu đang tới, mùa thu chớm về là hương ổi nơi vườn quê; cái hương thơm nồng nàn ấy, thân thuộc ấy đang lan tỏa "phả vào trong gió se". Hương ổi là một thi liệu độc đáo thể hiện bút pháp nghệ thuật khác lạ của Hữu Thỉnh. Như thế, mùa thu trong thơ ông không phải là "Ngô đồng nhất diệp lạc/Thiên hạ cộng tri thu" (Một lá ngô đồng rụng xuống/Thiên hạ biết mùa thu đã về) như cổ thi mà tín hiệu đầu thu chính là làn gió se, hương ổi mộc mạc, giản dị nơi quê nhà. Không chỉ vậy, mùa thu về còn mang theo những làn sương mờ ướt lạnh "Sương chùng chình qua ngõ/Hình như thu đã về". Hai chữ "chùng chình" đã nhân hóa sương thu như ngập ngừng, vấn vương, chờ đợi, bâng khuâng. Nhà thơ đã cảm nhận bước đi của thời gian trong khoảnh khắc chớm thu bằng cả sự rung động của tâm hồn: bâng khuâng, rạo rực và xốn xang. Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện thật tinh tế và đầy chất thơ. Quả thật, chỉ với một vài chi tiết tiêu biểu, thi sĩ đã vẽ ra trước mắt chúng ta một khung cảnh thu sang êm đềm, nhẹ nhàng, mơ hồ mà sâu lắng biết bao! Kết bài: Thành công của khổ thơ này bên cạnh việc tả cảnh còn là bởi sự cảm nhận tinh tế về một thứ trừu tượng như thời gian. Và hai mươi chữ cô đọng, súc tích, gợi cảm đã tạo nên bức tranh nhiên nhiên trong thời điểm giao mùa từ hạ sang thu nhẹ nhàng, tuyệt đẹp- đẹp từ chính những bước đi lặng lẽ của nó hay còn đẹp bởi tâm hồn chan chứa tình yêu quê hương, đất nước của thi nhân. B4: Đánh giá kết quả: - HS: Viết đoạn văn => Các nhóm khác nhận xét HS ở cùng nhóm, khác nhóm nhận xét chéo về: - Chính tả - Dùng từ ngữ, ngữ pháp - Liên kết câu - Xác định phép lập luận giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp trong một đoạn văn cụ thể. - GV: Lắng nghe HS trả lời và phần nhận xét => chốt kiến thức và có thể cho điểm HS. - Có rất nhiều cách mở bài, trình bày đoạn văn phần thân bài, kết bài khác nhau (các em đã tìm hiểu trong các bài
  7. học trước) dưới đây là một cách viết phần mở bài, thân bài (luận điểm 1), kết bài thường gặp (theo dàn ý đã lập). GV yêu cầu HS về nhà tiếp tục viết thành bài văn hoàn chỉnh theo dàn ý đã lập. GV gọi 3 HS đọc bài đọc thêm (SGK 84- 85)- tương ứng với bố cục 3 phần của văn bản. - HS1: Từ đầu đến...ở Ba Đình- Hà Nội. - HS2: Tiếp theo đến...mãi mãi đứng bên Bác. - HS3: Đoạn còn lại. Em hãy cho biết luận điểm chính của bài văn trên? Bài thơ thể hiện niềm kính yêu, lòng biết ơn sâu sắc của người con Miền Nam cũng như của người dân Việt Nam đối với Bác. GV: Về nhà các em tiếp tục tìm các luận cứ mà tác giả đưa ra để triển khai cho luận điểm trên. Học tập cách hành văn của tác giả Đức Thảo để vận dụng vào bài làm của mình một cách hợp lí. Qua các bài tập trên các em cần lưu ý: Khi làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ phải thể hiện được cách cảm thụ riêng, nêu được nhận xét, đánh giá của người viết về đoạn thơ, bài thơ và trình bày nó một cách thuyết phục, sắp xếp các luận điểm, luận cứ hợp lí thông qua phân tích, bình giá dựa trên tác phẩm, bám vào các điểm sáng về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ. Bài tập thêm Bước 1 :Giao nhiệm vụ Viết hoàn chỉnh bài nghị luận theo dàn bài đã xây dựng (Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Sang thu”(Hữu Thỉnh) Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ - HS viết hoàn chỉnh phần phân tích của khổ đầu bài thơ “Sang thu”(Hữu Thỉnh) vào vở. Bước 3: HS báo cáo Dự kiến sản phẩm “Sang thu” là một áng thơ xinh xắn dâng tặng Nàng Thu của một thi nhân - một thi nhân yêu quý mùa thu như bao thi nhân khác - Hữu Thỉnh. Bài thơ có khổ thơ mở đầu thật hay: “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về". Những câu thơ mở đầu bài thơ giản dị đến bất ngờ:“Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se". “Bỗng” là bỗng nhiên, là bất ngờ, bất chợt. Đặt chữ “bỗng” ở đầu khổ thơ, đầu bài thơ để tất cả giác quan của ta được đánh động, phải giật mình mà chú ý đón nhận mọi biến đổi của đất trời. Biến đổi đầu tiên thu hút sự chú ý của nhà thơ là mùi hương nồng nàn của trái ổi chín thơm lừng. Ổi đã bắt đầu ủ mình để chín tự bao giờ và cũng lặng lẽ toả hương tự bao giờ nhưng vào khoảnh khắc này hương ổi mới đủ nồng nàn đánh thức giác quan của thi nhân. Hương thơm ấy rất mạnh, rất nồng nàn, ngào ngạt có vậy mới “phả vào trong gió se”. Ổi phải chín đến nhường nào, thơm
  8. ngon đến nhường nào hương thơm của nó mới đủ mạnh để tạo ra một sự lan toả như vậy trong không gian. Thứ hương thơm ấy lại lan toả trong làn gió se nhè nhẹ ren rét. “Gió se” là gió heo may, chúng đến với nhân gian vào mỗi dịp đầu thu làm tẽ tê, gai gai những cánh tay trần mềm mại. Trước Cách mạng, Xuân Diệu đã từng mang gió se đến cho người đọc với những thoáng rùng mình ớn lạnh: “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Nhưng câu thơ của Hữu Thình lai dắt mùa thu đến bên ta êm ái, dịu dàng biết bao. Viết về những làn sương mùa thu, nhà thợ cũng có cách viết thật duyên dáng: “Sương chùng chình qua ngõ”. “Chùng chình” là cố ý làm chậm lại. Thủ pháp nhân hoá đã biến sương thành những cô bé, cậu bé nghịch ngợm đung đưa náu mình trong ngõ xóm, chùng chình chẳng muốn tan đi. Làng quê yêu mến dìu bước chản thi nhân đi từ hương ổi đến gió se... Rồi khi lạc giữa làn mây sớm chùng chình thì nhà thơ không nén nổi niềm xúc động, ông khe khẽ thì thầm: “Hình như thu đã về”. Từ “hình như” diễn tả tâm trạng ngỡ ngàng băn khoăn rất tinh tế của nhà thơ khi ngỡ ngàng nhận ra “thu đã về”. Khổ thơ đầu tiên của bài thơ “Sang thu” đặc biệt dịu dàng tinh tế, nó diễn tả những biến đổi tinh vi của đất trời và lòng người trong thời khác giao mùa được chờ đợi rất nhiều trong năm: từ hạ chuyển sang thu. Khổ thơ đã góp phần quan trọng tạo nên bài thơ “Sang thu”, một áng thơ thu duyên dáng và tài tình trong thi đề mùa thu quen thuộc của văn học Việt Nam. Bước 4: Đánh giá, nhận xét - GV tổ chức cho HS đánh giá, nhận xét - GV nhận xét chung -> Gv: Khái quát lại nội dung bài học. 4. HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG a. Mục tiêu: Giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức của bài học b. Nội dung: Học sinh viết hoàn chỉnh bài nghị luận theo dàn bài đã xây dựng c. Sản phẩm : Bài viết của học sinh d. Tổ chức thực hiện a. Mục tiêu: Biết được yêu cầu của bài nói nghị luận một bài thơ, đoạn thơ. b. Nội dung: HS luyện nói trong nhóm và trước lớp c. Sản phẩm: Bài thuyết trình của học sinh gửi trên nhóm lớp d. Tổ chức hoạt động: Hoạt động của GV và HS Nội dung * GV lưu ý HS: Lưu ý ngữ điệu nói : lúc to, nhỏ, nhanh, Đề bài: Bếp lửa sưởi chậm, cách nhấn mạnh phải linh hoạt, phù hợp với nội dung ấm một đời- Bàn về đang nói, và thể hiện được tình cảm của mình. bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt. - Nên dùng câu có tính chất lập luận, nhưng vẫn giàu cảm xúc. I. Chuẩn bị ở nhà - Bài phát biểu cần bám sát nhan đề đã cho II. Luyện nói trên nhóm lớp = video Bước 1: Giao nhiệm vụ GV yêu cầu HS thảo luận trong nhóm : Tự luyện nói trong nhóm. Có thể luyện nói từng phần. Sau khi luyện nói, các
  9. nhóm có thể cử đại diện của nhóm mình để luyện nói trước lớp. 1. Luyện nói trong Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ: nhóm HS ngồi theo nhóm 6, lắng nghe bài của nhau Bước 3: Báo cáo kết quả + Hs trình bày bài làm của mình trong nhóm + Một hs trình bày đoạn mở bài + Một hs trình bày luận điểm 1 + Hai hs trình bày luận điểm 2 ( Mỗi hs trình bày một luận cứ) Bước 4: Nhận xét, đánh giá Những HS khác nhận xét, bổ sung, cử HS làm tốt nhất của nhóm mình đại diện nói trước lớp. GV đưa ra tiêu chí chấm điểm phần nói của HS Tư thế- tác Nội dung bài Cách trình bày phong nói - Mắt nhìn - Đầy đủ ba - Có lời lời 2. Luyện nói trước thẳng (1đ) phần (2đ) chào, giới thiệu lớp. (1đ) - Nói to, rõ, có - Bám sát dàn ý ngữ điệu (1đ) (3đ) - Có lời cảm ơn - Thái độ tự tin, (1đ) gần gũi (1đ) Tổng điểm: Bước 1: Giao nhiệm vụ - GV yêu cầu mỗi nhóm HS cử một đại diện nói trước lớp; chọn 3HS làm giám khảo chấm điểm Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ - HS nói tốt nhất của lớp thực hiện nhiệm vụ Bước 3: Báo cáo kết quả - HS trình bày bài nói của mình 3-5 phút. Bước 4: Nhận xét, đánh giá - HS lắng nghe, nhận xét-> BGK cho điểm
  10. - GV nhận xét, chốt điểm. * GV đọc cho HS nghe một số đoạn văn mẫu để HS tham khảo Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người ( Quê hương - Đỗ Trung Quân ) Quê hương là những gì gắn bó thân thuộc nhất đối với mỗi người. Với Tế Hanh là dòng sông xanh biếc với những kỉ niệm tuổi thơ, Đỗ Trung Quân là chùm khế ngọt, hoa bí vàng, bờ dâm bụt đỏ, Giang Nam là kỉ niệm của một thời chăn trâu cắt cỏ. Còn với Bếp lửa của Bằng Việt thì quê hương gắn liền với hình ảnh người bà và bếp lửa- ngọn lửa sưởi ấm một đời. Bước 1: Giao nhiệm vụ - GV giao cho HS tình huống đóng vai phóng viên và nhà thơ Bằng Việt, phòng vấn nhà thơ Bằng Việt về cảm xúc của ông khi viết lên bài thơ Bếp lửa. GV cho HS quan sát bài phỏng vấn, dựa trên ý tưởng để thực hiện bài phỏng vấn của mình. Nhà thơ Bằng Việt viết “Bếp lửa”: Kỷ niệm tuổi thơ ùa về Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” Từ bao đời nay, bếp trong mỗi gia đình người Việt là biểu tượng kết nối yêu thương của mỗi người; là một đặc tính văn hóa của dân tộc; bếp gắn kết vợ chồng, con cái, hàng xóm, xa hơn nữa là bản làng, cộng đồng và toàn xã hội. Với riêng ông, bếp lửa có ý nghĩa gì khác? - Bếp lửa là hình tượng rất đẹp thể hiện sự đầm ấm của gia đình, gia tộc. Một bếp lửa gia đình thường chỉ có thể hội tụ được đông đủ các thành viên trong ngày trọng đại như ngày lễ, tết, những ngày kỷ niệm, hoặc gia đình có cuộc họp mặt mang tính truyền thống. Chính vì vậy mà bếp lửa luôn gợi cho tôi cảm giác sự ấm nóng, về tình cảm gia đình. Hình ảnh bếp lửa đã tạo thành cảm hứng cho tôi khi sáng tác bài thơ như thế.
  11. Nhà thơ Bằng Việt Một ý nữa là ngọn lửa luôn là hình tượng đẹp, rất lung linh, đó là mỹ cảm. Tôi cũng nhìn thấy ngọn lửa tạo ra năng lượng, tạo một niềm vui sống như là chức năng giáo dục. Còn chức năng cuối cùng là giải trí thì ngọn lửa cũng là nơi để con người đốt lửa để ngồi tâm tình trò chuyện, là lúc trẻ con nghe người già kể chuyện Là người đã từng trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của đất nước, từ chiến tranh đến lúc hòa bình, chắc hẳn với ông, bếp lửa ở từng giai đoạn cũng tạo ra rất nhiều xúc cảm? -Với tôi, ấn tượng sâu sắc và không thể nào quên trong suốt tuổi thơ là ánh lửa nhảy múa quanh nồi bánh chưng ngày tết, mà tôi và các em quây quần bên bà ngồi trông. Vì vậy khi nhớ về bà nội, về tuổi thơ của mình, tôi luôn coi bếp lửa là nhân vật thứ hai, một nhân vật có đời sống, số phận thật sự. Nó giống như một người bạn mà tôi cũng tâm tình, trò chuyện để rồi nó khơi gợi lại cho tôi tất cả những kỷ niệm tốt đẹp nhất của tuổi thơ, đồng thời tạo cho tôi sự yêu đời trong những ngày xa nhà, xa Tổ quốc. Ai người đầu tiên ông chia sẻ khi bài thơ “Bếp lửa” ra đời? -Tôi đã viết “Bếp lửa” khi mới ngoài 20 tuổi, đang học ở Nga, tại một thành phố xa quê hương nửa vòng Trái đất. Trong một không khí giá lạnh, toàn băng tuyết thì tôi lại nghĩ đến cái ấm, nóng, ngọn lửa nhảy tí tách trong bếp nhà mình. Trong lòng tôi chợt dâng lên một cảm xúc mãnh liệt, một nỗi nhớ da diết về gia đình, về bà nội, về bếp lửa Những kỷ niệm về tuổi thơ của tôi chợt hiện lên sống động hơn bao giờ hết. Ngay sau khi viết xong bài thơ, tôi đã gửi đến báo Văn Nghệ và đăng vào tháng 9.1963. Ðó là bài thơ thứ 2 của tôi được đăng báo. Câu thơ nào trong bài thơ chứa đựng nhiều kỷ niệm riêng tư nhất của ông?
  12. - Câu thơ gây cho tôi nhiều xúc động và kỷ niệm nhất đó là về hình ảnh người bố của tôi. “Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy/Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu/Nhớ lại sống mũi còn cay ”. Có người đã từng nhận xét về khổ thơ này của tôi rằng, cách diễn đạt của nhà thơ Bằng Việt hết sức Việt Nam, hết sức dân dã trong cuộc sống bình thường của người Việt. Nếu không phải là đứa trẻ đã từng sống ở nông thôn, đã từng ngồi ngửi khói bếp đến cay xè mắt thì không thể có được cách tả chân thực, viết được câu thơ hết sức tự nhiên như vậy. Với câu “Bố đánh xe khô rạc ngựa gầy” nhiều người cũng thắc mắc đây là câu thơ thật hay chỉ là tác giả tưởng tượng, hư cấu ra như vậy. Tôi xin khẳng định đây là câu thơ thật một trăm phần trăm. Gia đình tôi ở Huế di tản ra miền Bắc, bố tôi không xin được việc làm nên đã nhờ ông anh họ cho đi phụ đánh xe ngựa tuyến đường từ Hà Nội đi thị trấn Phùng, Ðan Phượng. Và từ một anh công chức chuyên làm việc giấy tờ, sổ sách, bố tôi trở thành anh đánh xe ngựa nghiệp dư suốt 4 năm để lấy tiền nuôi vợ, nuôi con. Ðó là hình ảnh ấn tượng, trở thành một kỷ niệm sâu sắc trong tôi mỗi khi nhớ về bố mình. Xin cảm ơn nhà thơ! Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ - HS hoạt động nhóm, phân chia nhiệm vụ đóng vai cho các thành viên (Lưu ý HS đã thuyết trình trước lớp, không tham gia nội dung này) Bước 3: Báo cáo sản phẩm - Nhóm HS trình bày (1-2 nhóm) Bước 4: Nhận xét, đánh giá - HS quan sát, nhận xét về tác phong, nội dung bài phỏng vấn - GV nhận xét, chốt. ? Qua tiết luyện nói, em rút ra cho mình bài học gì khi trình bày một vấn đề trước đám đông? * Hướng dẫn HS học bài ở nhà và chuẩn bị bài sau (5’) - Nắm chắc lí thuyết về kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. + Đặc điểm của bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ + Những yêu cầu về nội dung, hình thức bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. + Các bước làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ + Cách tổ chức, triển khai luận điểm - So sánh, phân biệt được 2 kiểu bài NL về tác phẩm truyện, đoạn trích và NL về đoạn thơ, bài thơ - HS nhận diện đề, tự ra đề bài. - Thực hành các bước làm và viết bài hoàn chỉnh cho đề: Cảm nhận về bài thơ Sang thu- Hữu Thỉnh. - Hoàn thành các bài tập - Tiếp tục hoàn thành các luận điểm trong đề bài văn: Làm thành bài văn hoàn chỉnh đề: “Bếp lửa sưởi ấm một đời - Bàn về bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt.”(Hoạt động nhóm)
  13. - Tập trình bày bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ trước mặt bạn bè hoặc người thân . * Hướng dẫn về nhà: ? Vẽ sơ đồ tư duy nội dung kiến thức cho bài học:các bước, cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ - Yêu cầu h/s thể hiện được kiến thức cơ bản trên sơ đồ: + Các bước làm bài (Tìm hiểu đề- tìm ý, lập dàn bài, viết bài, đọc lại bài và sửa chữa) + Bước xây dựng dàn bài thể hiện được bố cục bài văn và nội dung khái quát của từng phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài - Hoàn thiện các đoạn văn và viết hoàn chỉnh bài văn phần luyện tập - Viết hoàn chỉnh bài nghị luận theo dàn bài đã xây dựng (Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ “Sang thu”(Hữu Thỉnh) - Chuẩn bị bài mới: Soạn bài: Mây và Sóng (R. Ta-go). + Tìm hiểu về tác giả và một số tác phẩm tiêu biểu của tác giả (R. Ta-go) + Xác định thể loại? Bố cục của bài thơ?. + Đọc kĩ bài thơ, xác định phương thức biểu đạt chính + Tìm hiểu nội dung- nghệ thuật- ý nghĩa của bài thơ thông qua trả lời các câu hỏi trong SGK + Tìm đọc, liên hệ thêm với một số bài thơ đã học viết về tình mẫu tử. + Nhóm 1 (tổ 1): Tìm những chi tiết nói về lời mời gọi của những người sống trên mây, trong sóng. + Nhóm 2 (tổ 2): Tìm những chi tiết đã khiến em bé quyết định từ chối những lời mời gọi, rủ rê của Mây và Sóng? Qua đó em hiểu em bé là người như thế nào? + Nhóm 3 (tổ 3): Em hãy thuật lại những trò chơi mà em bé nghĩ ra? Qua đó ta thấy trò chơi của em bé có đặc điểm và ý nghĩa gì?